Sử dụng phân của trẻ sơ sinh để làm xúc xích, thịt lợn giúp ngăn chặn chảy máu cam... là những nghiên cứu được nhận giải Ig Nobel lần này.
Tại sảnh đường trường ĐH Harvard (Mỹ), Ig Nobel lần thứ 24 năm nay vẫn tiếp tục truyền thống trao giải cho những thành tựu khoa học theo tiêu chí "đầu tiên làm con người cười, sau đó làm họ suy nghĩ".
Nhiều nhà khoa học cảm thấy vô cùng thích thú trước lễ trao giải Ig Nobel - giải thưởng "nhái" lại giải Nobel danh giá. Buổi lễ trao giải này giống hệt Nobel, vinh danh đầy đủ thành tựu về các lĩnh vực khoa học và nghiên cứu. Chỉ khác là, Ig Nobel thiên về những phát hiện hài hước, gây bất ngờ tới mức... nhảm nhí.
Dưới đây là 10 giải thưởng Ig Nobel được trao trong năm 2014 này.

Ig Nobel Thần kinh học: lý giải vì sao nhiều người nhìn thấy Chúa Jesus trên bánh mì nướng

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Giải này được trao cho nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa học Trung Quốc đăng trên tạp chí Cortex tháng 4/2014. Theo đó, họ đã tiến hành chụp fRMI não của các tình nguyện viên khi được xem các khuôn mặt khác nhau.
Kết quả thu được chứng minh rằng: con người có xu hướng nhìn theo kỳ vọng, nghĩa là ta sẽ nhìn thấy những gì ta muốn thấy. Khi nhìn thấy một hình thù không rõ ràng, não bộ kích thích hoạt động của một vùng thần kinh đặc biệt, cho phép ta tưởng tượng ra điều mà ta muốn nhìn thấy. Đó là lý do rất nhiều người luôn cho rằng họ nhìn thấy Chúa Jesus hay Đức mẹ Maria trên… mặt bánh mì nướng.

Ig Nobel Tâm lý học: cú đêm có xu hướng thích… tự sướng

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Giải Ig Nobel thuộc hạng mục này được trao cho Peter K.Jonason, Amy Jones và Minna Lyons vì tìm ra một đặc điểm tính cách đặc biệt của các cú đêm.
Theo đó, trong nghiên cứu của họ được đăng vào năm 2013 trên tờ Personality and Individual Differences, những người thức khuya có xu hướng dễ bị tâm thần hơn so với người thích dậy sớm. Ngoài ra, họ thường tự ngưỡng mộ và luôn yêu bản thân mình quá mức hơn so với những người hay dậy sớm.

Ig Nobel Y tế công cộng: nuôi mèo rất nguy hiểm

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Tại hạng mục Y tế công cộng, Jaroslav Flegr, Jan Havlicek và các đồng sự được trao giải Ig Nobel với nghiên cứu về tác hại của việc nuôi mèo. Công trình này được công bố năm 2013 trên tạp chí trực tuyến PLOS ONE.
Theo đó, các nhà nghiên cứu trên phát hiện ra việc bị mèo cắn có thể gây nên tình trạng trầm cảm ở con người. Ngoài ra, lông mèo có chứa một kí sinh trùng đáng sợ có tên Toxoplasma gondii. Nếu bị nhiễm kí sinh trùng này, chúng sẽ xâm nhập vào não và gây nên biến đổi trong trung ương thần kinh của vật chủ, dẫn tới các rối loạn tâm thần và các bệnh lý khác.

Ig Nobel Sinh học: Phát hiện chó “giải quyết nỗi buồn” theo từ trường Trái đất

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Vlastimil Hart, Petra Novakova và các cộng sự đã được vinh danh tại hạng mục Ig Nobel về sinh học sau khi phát hiện ra một hành động vô cùng kì lạ chỉ thấy ở loài chó. Cụ thể, loài này khi “giải quyết nỗi buồn” thường quay mặt về cực Bắc và hướng vòng ba của mình về cực Nam theo đúng trục của từ trường Trái đất.
Phát hiện này được kiểm chứng sau khi các chuyên gia tiến hành thử nghiệm trên 37 giống chó khác nhau. Kết quả là 100% đều có thói quen như vậy. Tuy nhiên cho tới nay, vẫn chưa có nhà khoa học nào lý giải cơ chế giúp chó nhận biết được hướng từ trường để… đi vệ sinh cho đúng.

Ig Nobel Nghệ thuật: Nhìn một bức tranh xấu xí khiến con người… đau

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Marina de Tommaso, Michele Sardaro và các đồng nghiệp của mình đã nhận được giải Ig Nobel trong lĩnh vực nghệ thuật với việc chứng minh nghệ thuật xấu xí có thể làm đau con người.
Trong nghiên cứu của mình, các chuyên gia đã tiến hành đo mức độ đau của các tình nguyện viên khi chiếu laser vào bàn tay họ trong lúc ngắm các bức tranh khác nhau. Sau thí nghiệm, họ nhận thấy rằng: các tình nguyện viên cảm thấy đau hơn khi nhìn những tác phẩm xấu xí so với các tác phẩm đẹp đẽ.

Ig Nobel Vật lý: phát minh đi trên vỏ chuối

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Giải Ig Nobel Vật lý đã thuộc về nhóm các chuyên gia Nhật Bản Kiyoshi Mabuchi, Kensei Tanaka, Daichi Uchijima và Rina Sakai. Nghiên cứu đạt giải của họ được đăng trên tờ Tribology năm 2012.
Theo đó, nhóm chuyên gia trên đã tiến hành thử nghiệm đặt 12 vỏ chuối khác nhau dưới sàn rồi cho tình nguyện viên đi giày lên trên bề mặt đó. Sau thí nghiệm, họ tính toán và thu được kết quả: ma sát giữa giầy và vỏ chuối chỉ bằng 20% so với ma sát giữa giày với sàn thông thường.
Với kết quả trên, nhóm chuyên gia đã ví sàn “vỏ chuối” cũng tương tự như bề mặt tuyết với hệ số ma sát rất nhỏ. Trong tương lai, nghiên cứu này có thể mở ra một công nghệ sản xuất vật liệu bề mặt mới.

Ig Nobel Kinh tế: ý tưởng phát triển nền kinh tế từ việc thu hồi vốn kinh doanh

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Các nhà khoa học Ý được vinh danh trong hạng mục Ig Nobel Kinh tế trong việc sáng tạo nhằm thúc đẩy nền kinh tế của các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu.
Theo đó, ý tưởng này được thực hiện bằng cách thu hồi vốn kinh doanh từ dịch vụ mại dâm, buôn bán ma túy, buôn lậu hay các giao dịch tài chính bất hợp pháp khác.

Ig Nobel Y tế: Sử dụng thịt lợn để ngăn chặn chảy máu cam

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Nhóm các nhà khoa học đến từ Hoa Kỳ, Ấn Độ đã được trao giải thưởng Ig Nobel Y học cho phát kiến sử dụng thịt lợn để ngăn việc chảy máu cam.
Theo đó, các chuyên gia nhận thấy thịt heo có tác dụng tốt trong việc kiểm soát và ngăn chặn không cho máu cam bị chảy ra ngoài.
Để rút ra được kết quả này, các chuyên gia đã tiến hành thử nghiệm với một cậu bé 4 tuổi hay bị mắc chứng chảy máu cam. Và đương nhiên, miếng thịt lợn được cuộn nhỏ, đưa vào trong mũi đã giảm thiểu hiện tượng này.

Ig Nobel Khoa học Bắc Cực: thử nghiệm cách tuần lộc phản ứng với con người khi cải trang thành gấu Bắc Cực

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Với ý tưởng thử nghiệm mối tương tác giữa những chú tuần lộc với con người khi được cải trang thành gấu Bắc Cực, hai nhà khoa học Eigil Reimers và Sindre Eftestol được vinh danh ở hạng mục Khoa học Bắc Cực.
Sau khi cải trang thành gấu Bắc Cực, các chuyên gia đã nhận thấy ngay cả gấu Bắc Cực cũng ăn thịt cả đồng loại của mình.

Ig Nobel Dinh dưỡng: sử dụng vi sinh vật từ phân của trẻ sơ sinh để chế tạo xúc xích

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Nhà khoa học Raquel Rubio, Anna Jofra, Belen Martin, Teresa Aymerich và Margarita Garriga đã được vinh danh với nghiên cứu sử dụng vi sinh vật trong phân của trẻ sơ sinh 1- 6 tháng tuổi để chế tạo ra những thanh xúc xích.
Theo đó, các chuyên gia cho rằng, Lactobacillus gasseri và Enterococcus faecalis đóng vai trò quan trọng trong quá trình lên men nhiều thực phẩm, đặc biệt là xúc xích. Chúng có tác dụng tăng hương vị, màu sắc và độ an toàn cho xúc xích. Do đó, chúng ta không nên lãng phí một nguồn tài nguyên quý giá, có ý nghĩa trong chế biến thực phẩm như vậy.
Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đặt lại.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgfFCFocXpONO2o8BvnPpCJA4vaPqI2lK3FbSYOXhD8eF9qkADMMVsFXPmYAMAKNkhj0y6i_mZR2MREWVX6v9PqigpgBOf-xvs68_BQm3kvXWQIBdZZw8-l6KOF8LVj2mqvoPSEfl6QiSLq/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjhCn3MZmkcsR3TjWDzlV9rBUpsRJ1WWX5U19Gh2C5IztNeIoIBaVFkVNNcfP4wU1YAn79DltipMdW6Bx1hn011YdjciAkkmarPY64zt0YyiG4vL-HQ8-H3GmUL9mSQmX38OiPzT9Ow7aAp/
Phát minh
9:27 AM|

Sử dụng phân của trẻ sơ sinh để làm xúc xích, thịt lợn giúp ngăn chặn chảy máu cam... là những nghiên cứu được nhận giải Ig Nobel lần này.
Tại sảnh đường trường ĐH Harvard (Mỹ), Ig Nobel lần thứ 24 năm nay vẫn tiếp tục truyền thống trao giải cho những thành tựu khoa học theo tiêu chí "đầu tiên làm con người cười, sau đó làm họ suy nghĩ".
Nhiều nhà khoa học cảm thấy vô cùng thích thú trước lễ trao giải Ig Nobel - giải thưởng "nhái" lại giải Nobel danh giá. Buổi lễ trao giải này giống hệt Nobel, vinh danh đầy đủ thành tựu về các lĩnh vực khoa học và nghiên cứu. Chỉ khác là, Ig Nobel thiên về những phát hiện hài hước, gây bất ngờ tới mức... nhảm nhí.
Dưới đây là 10 giải thưởng Ig Nobel được trao trong năm 2014 này.

Ig Nobel Thần kinh học: lý giải vì sao nhiều người nhìn thấy Chúa Jesus trên bánh mì nướng

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Giải này được trao cho nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa học Trung Quốc đăng trên tạp chí Cortex tháng 4/2014. Theo đó, họ đã tiến hành chụp fRMI não của các tình nguyện viên khi được xem các khuôn mặt khác nhau.
Kết quả thu được chứng minh rằng: con người có xu hướng nhìn theo kỳ vọng, nghĩa là ta sẽ nhìn thấy những gì ta muốn thấy. Khi nhìn thấy một hình thù không rõ ràng, não bộ kích thích hoạt động của một vùng thần kinh đặc biệt, cho phép ta tưởng tượng ra điều mà ta muốn nhìn thấy. Đó là lý do rất nhiều người luôn cho rằng họ nhìn thấy Chúa Jesus hay Đức mẹ Maria trên… mặt bánh mì nướng.

Ig Nobel Tâm lý học: cú đêm có xu hướng thích… tự sướng

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Giải Ig Nobel thuộc hạng mục này được trao cho Peter K.Jonason, Amy Jones và Minna Lyons vì tìm ra một đặc điểm tính cách đặc biệt của các cú đêm.
Theo đó, trong nghiên cứu của họ được đăng vào năm 2013 trên tờ Personality and Individual Differences, những người thức khuya có xu hướng dễ bị tâm thần hơn so với người thích dậy sớm. Ngoài ra, họ thường tự ngưỡng mộ và luôn yêu bản thân mình quá mức hơn so với những người hay dậy sớm.

Ig Nobel Y tế công cộng: nuôi mèo rất nguy hiểm

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Tại hạng mục Y tế công cộng, Jaroslav Flegr, Jan Havlicek và các đồng sự được trao giải Ig Nobel với nghiên cứu về tác hại của việc nuôi mèo. Công trình này được công bố năm 2013 trên tạp chí trực tuyến PLOS ONE.
Theo đó, các nhà nghiên cứu trên phát hiện ra việc bị mèo cắn có thể gây nên tình trạng trầm cảm ở con người. Ngoài ra, lông mèo có chứa một kí sinh trùng đáng sợ có tên Toxoplasma gondii. Nếu bị nhiễm kí sinh trùng này, chúng sẽ xâm nhập vào não và gây nên biến đổi trong trung ương thần kinh của vật chủ, dẫn tới các rối loạn tâm thần và các bệnh lý khác.

Ig Nobel Sinh học: Phát hiện chó “giải quyết nỗi buồn” theo từ trường Trái đất

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Vlastimil Hart, Petra Novakova và các cộng sự đã được vinh danh tại hạng mục Ig Nobel về sinh học sau khi phát hiện ra một hành động vô cùng kì lạ chỉ thấy ở loài chó. Cụ thể, loài này khi “giải quyết nỗi buồn” thường quay mặt về cực Bắc và hướng vòng ba của mình về cực Nam theo đúng trục của từ trường Trái đất.
Phát hiện này được kiểm chứng sau khi các chuyên gia tiến hành thử nghiệm trên 37 giống chó khác nhau. Kết quả là 100% đều có thói quen như vậy. Tuy nhiên cho tới nay, vẫn chưa có nhà khoa học nào lý giải cơ chế giúp chó nhận biết được hướng từ trường để… đi vệ sinh cho đúng.

Ig Nobel Nghệ thuật: Nhìn một bức tranh xấu xí khiến con người… đau

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Marina de Tommaso, Michele Sardaro và các đồng nghiệp của mình đã nhận được giải Ig Nobel trong lĩnh vực nghệ thuật với việc chứng minh nghệ thuật xấu xí có thể làm đau con người.
Trong nghiên cứu của mình, các chuyên gia đã tiến hành đo mức độ đau của các tình nguyện viên khi chiếu laser vào bàn tay họ trong lúc ngắm các bức tranh khác nhau. Sau thí nghiệm, họ nhận thấy rằng: các tình nguyện viên cảm thấy đau hơn khi nhìn những tác phẩm xấu xí so với các tác phẩm đẹp đẽ.

Ig Nobel Vật lý: phát minh đi trên vỏ chuối

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Giải Ig Nobel Vật lý đã thuộc về nhóm các chuyên gia Nhật Bản Kiyoshi Mabuchi, Kensei Tanaka, Daichi Uchijima và Rina Sakai. Nghiên cứu đạt giải của họ được đăng trên tờ Tribology năm 2012.
Theo đó, nhóm chuyên gia trên đã tiến hành thử nghiệm đặt 12 vỏ chuối khác nhau dưới sàn rồi cho tình nguyện viên đi giày lên trên bề mặt đó. Sau thí nghiệm, họ tính toán và thu được kết quả: ma sát giữa giầy và vỏ chuối chỉ bằng 20% so với ma sát giữa giày với sàn thông thường.
Với kết quả trên, nhóm chuyên gia đã ví sàn “vỏ chuối” cũng tương tự như bề mặt tuyết với hệ số ma sát rất nhỏ. Trong tương lai, nghiên cứu này có thể mở ra một công nghệ sản xuất vật liệu bề mặt mới.

Ig Nobel Kinh tế: ý tưởng phát triển nền kinh tế từ việc thu hồi vốn kinh doanh

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Các nhà khoa học Ý được vinh danh trong hạng mục Ig Nobel Kinh tế trong việc sáng tạo nhằm thúc đẩy nền kinh tế của các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu.
Theo đó, ý tưởng này được thực hiện bằng cách thu hồi vốn kinh doanh từ dịch vụ mại dâm, buôn bán ma túy, buôn lậu hay các giao dịch tài chính bất hợp pháp khác.

Ig Nobel Y tế: Sử dụng thịt lợn để ngăn chặn chảy máu cam

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Nhóm các nhà khoa học đến từ Hoa Kỳ, Ấn Độ đã được trao giải thưởng Ig Nobel Y học cho phát kiến sử dụng thịt lợn để ngăn việc chảy máu cam.
Theo đó, các chuyên gia nhận thấy thịt heo có tác dụng tốt trong việc kiểm soát và ngăn chặn không cho máu cam bị chảy ra ngoài.
Để rút ra được kết quả này, các chuyên gia đã tiến hành thử nghiệm với một cậu bé 4 tuổi hay bị mắc chứng chảy máu cam. Và đương nhiên, miếng thịt lợn được cuộn nhỏ, đưa vào trong mũi đã giảm thiểu hiện tượng này.

Ig Nobel Khoa học Bắc Cực: thử nghiệm cách tuần lộc phản ứng với con người khi cải trang thành gấu Bắc Cực

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Với ý tưởng thử nghiệm mối tương tác giữa những chú tuần lộc với con người khi được cải trang thành gấu Bắc Cực, hai nhà khoa học Eigil Reimers và Sindre Eftestol được vinh danh ở hạng mục Khoa học Bắc Cực.
Sau khi cải trang thành gấu Bắc Cực, các chuyên gia đã nhận thấy ngay cả gấu Bắc Cực cũng ăn thịt cả đồng loại của mình.

Ig Nobel Dinh dưỡng: sử dụng vi sinh vật từ phân của trẻ sơ sinh để chế tạo xúc xích

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Nhà khoa học Raquel Rubio, Anna Jofra, Belen Martin, Teresa Aymerich và Margarita Garriga đã được vinh danh với nghiên cứu sử dụng vi sinh vật trong phân của trẻ sơ sinh 1- 6 tháng tuổi để chế tạo ra những thanh xúc xích.
Theo đó, các chuyên gia cho rằng, Lactobacillus gasseri và Enterococcus faecalis đóng vai trò quan trọng trong quá trình lên men nhiều thực phẩm, đặc biệt là xúc xích. Chúng có tác dụng tăng hương vị, màu sắc và độ an toàn cho xúc xích. Do đó, chúng ta không nên lãng phí một nguồn tài nguyên quý giá, có ý nghĩa trong chế biến thực phẩm như vậy.
Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đặt lại.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgfFCFocXpONO2o8BvnPpCJA4vaPqI2lK3FbSYOXhD8eF9qkADMMVsFXPmYAMAKNkhj0y6i_mZR2MREWVX6v9PqigpgBOf-xvs68_BQm3kvXWQIBdZZw8-l6KOF8LVj2mqvoPSEfl6QiSLq/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjhCn3MZmkcsR3TjWDzlV9rBUpsRJ1WWX5U19Gh2C5IztNeIoIBaVFkVNNcfP4wU1YAn79DltipMdW6Bx1hn011YdjciAkkmarPY64zt0YyiG4vL-HQ8-H3GmUL9mSQmX38OiPzT9Ow7aAp/

Thiết bị hiện đại này sử dụng các hạt từ trường để hút sạch vi khuẩn và độc tố ra khỏi máu bệnh nhân.
Ngày 18/9, các nhà nghiên cứu Mỹ tuyên bố họ đã phát minh ra một thiết bị từ trường đặc biệt có thể “hút” được các vi khuẩn, virus và độc tố ra khỏi máu của bệnh nhân để giúp họ điều trị Ebola.
Ông Joo Kang, nghiên cứu viên tại Viện nghiên cứu Kỹ thuật Sinh học Wyss thuốc đại học Harvard cho hay: “Chúng tôi tìm cách mô phỏng chức năng và vi cấu trúc của lá lách để có thể liên tục loại bỏ mầm bệnh ra khỏi máu bệnh nhân”.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Thiết bị lọc máu bằng công nghệ sinh học mới được phát minh

Thiết bị từ trường do các nhà nghiên cứu phát mình có thể “hút” các tác nhân gây bệnh, kể cả virus Ebola ra khỏi máu của người bệnh, sau đó đẩy máu sạch trở lại vào cơ thể họ.
Ông Kang và các đồng nghiệp sử dụng một “lá lách sinh học” để thử nghiệm trên chuột bạch bị nhiễm tụ cầu khuẩn và E. Coli, hai loại vi khuẩn gây nhiễm trùng máu nguy hiểm nhất ở người. Kết quả là “lá lách sinh học” của họ đã lọc sạch được 90% vi khuẩn trong máu của những con chuột thí nghiệm, đồng thời tăng khả năng sống sót của chúng.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Một hạt từ trường (màu xanh) giữ chặt vi khuẩn E. Coli

Khi áp dụng trên người, máu của bệnh nhân sẽ được chảy qua một ống lọc với tốc độ 1,25 lít một giờ. Bên trong ống lọc, máu sẽ được trộn với những hạt từ trường rất nhỏ được bọc bằng một loại protein có khả năng giữ lại toàn bộ những mầm bệnh và chất độc.
Sau đó, bên trong những kênh nhỏ của thiết bị, một nam châm sẽ hút toàn bộ các hạt từ trường ra khỏi dòng máu. Những hạt từ trường này khi bị hút lên sẽ mang theo toàn bộ những mầm bệnh và độc tố mà chúng đang giữ lại.
Lúc này, máu nhiễm khuẩn và nhiễm độc sẽ trở thành máu sạch, và được đẩy trở lại cơ thể của bệnh nhân.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Cận cảnh thiết bị lọc máu có thể hút sạch mầm bệnh và độc tố

Loại protein tự nhiên mà các nhà khoa học sử dụng để bọc các hạt từ trường có tên gọi là opsonin. Opsonin là một thành phần trong hệ miễn dịch của người và có khả năng giữ lại đường trên bề mặt tất cả các loại vi khuẩn và nấm.
Để có thể gắn opsonin vào các hạt từ trường, ông Kang và đồng nghiệp đã thay đổi cấu trúc của protein này bằng công nghệ gene.
Công nghệ này hứa hẹn sẽ phát huy hiệu quả rất cao ở những bệnh nhân nhiễm virus Ebola, một loại virus nguy hiểm gây ra hiện tượng nhiễm độc máu nghiêm trọng cho bệnh nhân.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Virus Ebola nhìn dưới kính hiển vi

Một thành viên nhóm nghiên cứu cho biết: “Loại protein mà chúng tôi sử dụng có khả năng giữ lại virus Ebola trong ống nghiệm, do đó chúng tôi cho rằng nó có thể được sử dụng để điều trị cho các bệnh nhân nhiễm Ebola”.
Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu này sẽ tiếp tục thử nghiệm công nghệ và thiết bị mới này trên các động vật lớn hơn, và sau đó sẽ thử nghiệm chính thức trên người để chứng minh hiệu quả của nó.
Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đặt lại.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjBUcoX7K7j3SEEOiasyizHXf9fuo5O_SJnEJXtEMAXjL2r9fi1u8QgSyDZteVHUy8mAdg3SNzjIBw-_pxxUsYmhVfqA9HVsYEQR3U6zRNHkBMhPyJ3MFs9WYRu0oLLNLYuZzu38C_ATqcj/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiu-nX69Z_w4oUYLFkbcWCKJG8BNEfBmCI2jEiB8oDfaa9xLlCdhCwgep7SkiekyH56gePMUkSsLzxNlEggJl5U2mTyJq_GKEbr6JKeampGI9zY8m2yzKc_WCL0JfR34keTXENQ5sHdUScU/
Phát minh
9:26 AM|

Thiết bị hiện đại này sử dụng các hạt từ trường để hút sạch vi khuẩn và độc tố ra khỏi máu bệnh nhân.
Ngày 18/9, các nhà nghiên cứu Mỹ tuyên bố họ đã phát minh ra một thiết bị từ trường đặc biệt có thể “hút” được các vi khuẩn, virus và độc tố ra khỏi máu của bệnh nhân để giúp họ điều trị Ebola.
Ông Joo Kang, nghiên cứu viên tại Viện nghiên cứu Kỹ thuật Sinh học Wyss thuốc đại học Harvard cho hay: “Chúng tôi tìm cách mô phỏng chức năng và vi cấu trúc của lá lách để có thể liên tục loại bỏ mầm bệnh ra khỏi máu bệnh nhân”.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Thiết bị lọc máu bằng công nghệ sinh học mới được phát minh

Thiết bị từ trường do các nhà nghiên cứu phát mình có thể “hút” các tác nhân gây bệnh, kể cả virus Ebola ra khỏi máu của người bệnh, sau đó đẩy máu sạch trở lại vào cơ thể họ.
Ông Kang và các đồng nghiệp sử dụng một “lá lách sinh học” để thử nghiệm trên chuột bạch bị nhiễm tụ cầu khuẩn và E. Coli, hai loại vi khuẩn gây nhiễm trùng máu nguy hiểm nhất ở người. Kết quả là “lá lách sinh học” của họ đã lọc sạch được 90% vi khuẩn trong máu của những con chuột thí nghiệm, đồng thời tăng khả năng sống sót của chúng.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Một hạt từ trường (màu xanh) giữ chặt vi khuẩn E. Coli

Khi áp dụng trên người, máu của bệnh nhân sẽ được chảy qua một ống lọc với tốc độ 1,25 lít một giờ. Bên trong ống lọc, máu sẽ được trộn với những hạt từ trường rất nhỏ được bọc bằng một loại protein có khả năng giữ lại toàn bộ những mầm bệnh và chất độc.
Sau đó, bên trong những kênh nhỏ của thiết bị, một nam châm sẽ hút toàn bộ các hạt từ trường ra khỏi dòng máu. Những hạt từ trường này khi bị hút lên sẽ mang theo toàn bộ những mầm bệnh và độc tố mà chúng đang giữ lại.
Lúc này, máu nhiễm khuẩn và nhiễm độc sẽ trở thành máu sạch, và được đẩy trở lại cơ thể của bệnh nhân.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Cận cảnh thiết bị lọc máu có thể hút sạch mầm bệnh và độc tố

Loại protein tự nhiên mà các nhà khoa học sử dụng để bọc các hạt từ trường có tên gọi là opsonin. Opsonin là một thành phần trong hệ miễn dịch của người và có khả năng giữ lại đường trên bề mặt tất cả các loại vi khuẩn và nấm.
Để có thể gắn opsonin vào các hạt từ trường, ông Kang và đồng nghiệp đã thay đổi cấu trúc của protein này bằng công nghệ gene.
Công nghệ này hứa hẹn sẽ phát huy hiệu quả rất cao ở những bệnh nhân nhiễm virus Ebola, một loại virus nguy hiểm gây ra hiện tượng nhiễm độc máu nghiêm trọng cho bệnh nhân.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Virus Ebola nhìn dưới kính hiển vi

Một thành viên nhóm nghiên cứu cho biết: “Loại protein mà chúng tôi sử dụng có khả năng giữ lại virus Ebola trong ống nghiệm, do đó chúng tôi cho rằng nó có thể được sử dụng để điều trị cho các bệnh nhân nhiễm Ebola”.
Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu này sẽ tiếp tục thử nghiệm công nghệ và thiết bị mới này trên các động vật lớn hơn, và sau đó sẽ thử nghiệm chính thức trên người để chứng minh hiệu quả của nó.
Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đặt lại.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjBUcoX7K7j3SEEOiasyizHXf9fuo5O_SJnEJXtEMAXjL2r9fi1u8QgSyDZteVHUy8mAdg3SNzjIBw-_pxxUsYmhVfqA9HVsYEQR3U6zRNHkBMhPyJ3MFs9WYRu0oLLNLYuZzu38C_ATqcj/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiu-nX69Z_w4oUYLFkbcWCKJG8BNEfBmCI2jEiB8oDfaa9xLlCdhCwgep7SkiekyH56gePMUkSsLzxNlEggJl5U2mTyJq_GKEbr6JKeampGI9zY8m2yzKc_WCL0JfR34keTXENQ5sHdUScU/

Một hệ thống máy tính chuyên dụng cho phép những người dị tật, rối loạn chức năng phát âm như ALS hoặc Parkinson thường có giá hàng ngàn đô la. Tuy nhiên, một sinh viên 16 tuổi ở Ấn Độ đã tạo ra một thiết bị giá chỉ 80 USD nhưng có thể hoàn thành nhiệm vụ cơ bản của cỗ máy trị giá 7.000 tới 10.000 USD.
Nhà phát minh tuổi teen có tên Arsh Shah Dilbagi gọi phát minh của mình là TALK theo đúng khả năng mà nó có thể thực hiện.
TALK được phát triển từ một mạch Arduino có giá 25 USD cùng vài thành phần khác. Thành phần quan trọng nhất là một microphone MEMS đặt dưới mũi. Microphone cực kỳ nhạy cảm này có một màng nhạy áp được khắc trực tiếp lên một vi mạch. Nhờ đó hệ thống có độ nhạy rất cao, có thể phát hiện sự khác biệt giữa hơi thở ngắn và hơi thở dài, đó là tất cả những gì người dùng cần làm để giao tiếp với thế giới bên ngoài.
Chế tạo máy biến hơi thở thành giọng nói
Vi điều khiển Arduino sẽ dịch những hơi thở ngắn và dài sang những dấu chấm và dấu gạch trong mã Morse, do đó cho phép người dùng đánh vần một từ với vài hơi thở. Sau đó những mã này sẽ được gửi tới một bộ tổng hợp giọng nói để phát ra theo một loạt giọng dựa trên sở thích của người dùng. Dilbagi đã làm việc với một nhà thần kinh học ở New Delhi (Ấn Độ) để thử nghiệm thiết bị trên một bệnh nhân Parkinson, và TALK đã làm việc tốt đúng như mong đợi. Hệ thống này có thể có thể dịch các chấm và gạch ra sang từ một cách đáng tin cậy.
Những thiết bị trợ giúp giao tiếp giống như của Intel chế tạo cho Stephen Hawking có cấu trúc phức tạp hơn. Bàn phím phần mềm mà Hawking sử dụng có thể đoán từ mà ông muốn nói sau khi ông nhập vào một vài ký tự (nhập vào bằng cách ngăn con trỏ đang chuyển động dừng lại đúng lúc) trước khi chương trình có thể hoàn thành từ hoặc cụm từ. Ưu điểm chính của TALK là nó cực kỳ rẻ. Với mức giá chỉ bằng 1% so với giá của những chiếc máy trợ giúp giao tiếp cao cấp, người dùng sẵn sàng chấp nhận học mã Morse để có thể sử dụng TALK.

Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgizLoKBpz-7w9jhODlKLgFG_uUx8oEuFDGUYhL-XYnUmx1WUtD5RWaXIrFyJVmDvGztOg4GAne3tHwjYVFhKLXtdPhSuritNadBa5mmmMHdDkvLOPX3i6JJegybJq17pjP7vSBmiXJ_5FN/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj7JtwtkG7QudV8Tj1CG3AUGp56qMdCrJxc6hUUk_01p1rMVpklv-_sBRbqXLHyukBFRV6F3MQCrW6k81IshKOeJ_YIcSuSnDz1zzWt7AU1G_21pcpwrPnNsV2c8NRzfhH-ymK4ygabBKKb/
Phát minh
9:26 AM|

Một hệ thống máy tính chuyên dụng cho phép những người dị tật, rối loạn chức năng phát âm như ALS hoặc Parkinson thường có giá hàng ngàn đô la. Tuy nhiên, một sinh viên 16 tuổi ở Ấn Độ đã tạo ra một thiết bị giá chỉ 80 USD nhưng có thể hoàn thành nhiệm vụ cơ bản của cỗ máy trị giá 7.000 tới 10.000 USD.
Nhà phát minh tuổi teen có tên Arsh Shah Dilbagi gọi phát minh của mình là TALK theo đúng khả năng mà nó có thể thực hiện.
TALK được phát triển từ một mạch Arduino có giá 25 USD cùng vài thành phần khác. Thành phần quan trọng nhất là một microphone MEMS đặt dưới mũi. Microphone cực kỳ nhạy cảm này có một màng nhạy áp được khắc trực tiếp lên một vi mạch. Nhờ đó hệ thống có độ nhạy rất cao, có thể phát hiện sự khác biệt giữa hơi thở ngắn và hơi thở dài, đó là tất cả những gì người dùng cần làm để giao tiếp với thế giới bên ngoài.
Chế tạo máy biến hơi thở thành giọng nói
Vi điều khiển Arduino sẽ dịch những hơi thở ngắn và dài sang những dấu chấm và dấu gạch trong mã Morse, do đó cho phép người dùng đánh vần một từ với vài hơi thở. Sau đó những mã này sẽ được gửi tới một bộ tổng hợp giọng nói để phát ra theo một loạt giọng dựa trên sở thích của người dùng. Dilbagi đã làm việc với một nhà thần kinh học ở New Delhi (Ấn Độ) để thử nghiệm thiết bị trên một bệnh nhân Parkinson, và TALK đã làm việc tốt đúng như mong đợi. Hệ thống này có thể có thể dịch các chấm và gạch ra sang từ một cách đáng tin cậy.
Những thiết bị trợ giúp giao tiếp giống như của Intel chế tạo cho Stephen Hawking có cấu trúc phức tạp hơn. Bàn phím phần mềm mà Hawking sử dụng có thể đoán từ mà ông muốn nói sau khi ông nhập vào một vài ký tự (nhập vào bằng cách ngăn con trỏ đang chuyển động dừng lại đúng lúc) trước khi chương trình có thể hoàn thành từ hoặc cụm từ. Ưu điểm chính của TALK là nó cực kỳ rẻ. Với mức giá chỉ bằng 1% so với giá của những chiếc máy trợ giúp giao tiếp cao cấp, người dùng sẵn sàng chấp nhận học mã Morse để có thể sử dụng TALK.

Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgizLoKBpz-7w9jhODlKLgFG_uUx8oEuFDGUYhL-XYnUmx1WUtD5RWaXIrFyJVmDvGztOg4GAne3tHwjYVFhKLXtdPhSuritNadBa5mmmMHdDkvLOPX3i6JJegybJq17pjP7vSBmiXJ_5FN/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj7JtwtkG7QudV8Tj1CG3AUGp56qMdCrJxc6hUUk_01p1rMVpklv-_sBRbqXLHyukBFRV6F3MQCrW6k81IshKOeJ_YIcSuSnDz1zzWt7AU1G_21pcpwrPnNsV2c8NRzfhH-ymK4ygabBKKb/

Mỗi ngày chúng ta đều thải ra môi trường một số lượng không nhỏ các loại bao bì thực phẩm như là bao bì mì tôm, giấy gói đồ ăn chế biến sẵn, hộp đựng sữa... Nếu không được làm bằng các vật liệu phân hủy được, những bao bì này sẽ trở thành mối đe dọa lớn tới môi trường.
Để giải quyết vấn đề đó, một công ty Thụy Điển đã phát minh ra một loại bao bì mới có thể phân hủy được, thậm chí còn có thể nấu chín thực phẩm.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Hai nhà thiết kế người Thụy Điển là Hannah Billqvist và Anna Glansén của công ty Tomorrow Machine đã khởi động một dự án vào năm 2012, với cái tên "This Too Shall Pass" (Chuyện đó rồi sẽ qua đi) nhằm nghiên cứu ra một loại bao bì thực phẩm phân hủy được, cùng với khả năng tự nấu chín thực phẩm.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Thức ăn sẽ được nấu trực tiếp bên trong bao bì và nó sẽ tự mở khi đồ ăn đã đạt đến một nhiệt độ nhất định. Bao bì này có thể dễ dàng đem đi phân hủy sau khi sử dụng. Có tên là Sustainable Expanding Bowl, chiếc bát này được tạo thành từ các sợi cellulose và có chứa thức ăn đông lạnh bên trong. Chỉ cần thêm nước sôi vào là đồ ăn bên trong sẽ được nấu chín và khiến cho bao bì tự mở ra thành hình một chiếc bát.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Tomorrow Machine cũng đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển một loại bao bì mới khác, được làm từ nguyên vật liệu tự nhiên có thể dễ dàng phân hủy hoặc hòa tan vào nước.
Chiếc hộp đựng nước uống trong ảnh dưới được làm từ một hỗn hợp của agar (một chất keo được tạo ra bằng cách đun sôi một polysaccharide trong tảo đỏ) và nước. Khi đồ uống bên trong đã được hút hết, chiếc hộp sẽ bắt đầu co rút lại. Nó gần như biến mất hoàn toàn sau chỉ một tháng.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Ngoài ra còn có một loại bao bì dành cho đồ khô như gạo hoặc mì được tạo thành từ sáp ong đã qua xử lý. Lớp sáp này mỏng như tờ giấy và có thể bóc ra giống như vỏ cam vậy.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Bên cạnh đó, Tomorrow Machine còn phát triển một hộp đựng chất lỏng (nước chấm chẳng hạn) thân thiện với môi trường. Chiếc hộp làm bằng đường caramel này được phủ một lớp sáp ong và có thể được mở bằng cách đập vỡ như trứng gà vậy. Chỉ mất vài phút để lớp đường hòa tan vào nước, nghĩa là việc xử lý rác từ nay sẽ rất dễ dàng.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Tuy nhiên, rất nhiều người có thể sẽ không thích việc phải gạn mảnh vỡ của hộp ra khỏi bát nước chấm của mình để tránh làm ảnh hưởng đến hương vị. Dù sao thì ở thời điểm này, các loại bao bì vẫn chỉ là nguyên mẫu và hoàn toàn có thể thay đổi để sớm đưa ra thị trường.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhfmmuoGjma9HO7hIDGeEyJysKniGm9B_3dvJ_2dENG5tZMZRU_Omb1-tp-seqEqggo05hwgtzWjeP7aWItTqKi80Mrd0e5ccT_S_7fSqW20HjgUsc3OV3gHHMdnnsQHU_Phks4Fvx5n2Hy/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgddO-jhTa25ywhVlcXWdvBABq7Rqf8fBI1q10rRyIbRariyUY-H6WJNEimB7viau73v4KkdSZgaKkmRrEoGlVARFS0DP2ver9FpRKOwa-NfEApmKKU_VnpLqzNd9fiHxEaJUbJ2_t4UE_K/
Phát minh
9:25 AM|

Mỗi ngày chúng ta đều thải ra môi trường một số lượng không nhỏ các loại bao bì thực phẩm như là bao bì mì tôm, giấy gói đồ ăn chế biến sẵn, hộp đựng sữa... Nếu không được làm bằng các vật liệu phân hủy được, những bao bì này sẽ trở thành mối đe dọa lớn tới môi trường.
Để giải quyết vấn đề đó, một công ty Thụy Điển đã phát minh ra một loại bao bì mới có thể phân hủy được, thậm chí còn có thể nấu chín thực phẩm.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Hai nhà thiết kế người Thụy Điển là Hannah Billqvist và Anna Glansén của công ty Tomorrow Machine đã khởi động một dự án vào năm 2012, với cái tên "This Too Shall Pass" (Chuyện đó rồi sẽ qua đi) nhằm nghiên cứu ra một loại bao bì thực phẩm phân hủy được, cùng với khả năng tự nấu chín thực phẩm.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Thức ăn sẽ được nấu trực tiếp bên trong bao bì và nó sẽ tự mở khi đồ ăn đã đạt đến một nhiệt độ nhất định. Bao bì này có thể dễ dàng đem đi phân hủy sau khi sử dụng. Có tên là Sustainable Expanding Bowl, chiếc bát này được tạo thành từ các sợi cellulose và có chứa thức ăn đông lạnh bên trong. Chỉ cần thêm nước sôi vào là đồ ăn bên trong sẽ được nấu chín và khiến cho bao bì tự mở ra thành hình một chiếc bát.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Tomorrow Machine cũng đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển một loại bao bì mới khác, được làm từ nguyên vật liệu tự nhiên có thể dễ dàng phân hủy hoặc hòa tan vào nước.
Chiếc hộp đựng nước uống trong ảnh dưới được làm từ một hỗn hợp của agar (một chất keo được tạo ra bằng cách đun sôi một polysaccharide trong tảo đỏ) và nước. Khi đồ uống bên trong đã được hút hết, chiếc hộp sẽ bắt đầu co rút lại. Nó gần như biến mất hoàn toàn sau chỉ một tháng.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Ngoài ra còn có một loại bao bì dành cho đồ khô như gạo hoặc mì được tạo thành từ sáp ong đã qua xử lý. Lớp sáp này mỏng như tờ giấy và có thể bóc ra giống như vỏ cam vậy.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Bên cạnh đó, Tomorrow Machine còn phát triển một hộp đựng chất lỏng (nước chấm chẳng hạn) thân thiện với môi trường. Chiếc hộp làm bằng đường caramel này được phủ một lớp sáp ong và có thể được mở bằng cách đập vỡ như trứng gà vậy. Chỉ mất vài phút để lớp đường hòa tan vào nước, nghĩa là việc xử lý rác từ nay sẽ rất dễ dàng.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Tuy nhiên, rất nhiều người có thể sẽ không thích việc phải gạn mảnh vỡ của hộp ra khỏi bát nước chấm của mình để tránh làm ảnh hưởng đến hương vị. Dù sao thì ở thời điểm này, các loại bao bì vẫn chỉ là nguyên mẫu và hoàn toàn có thể thay đổi để sớm đưa ra thị trường.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhfmmuoGjma9HO7hIDGeEyJysKniGm9B_3dvJ_2dENG5tZMZRU_Omb1-tp-seqEqggo05hwgtzWjeP7aWItTqKi80Mrd0e5ccT_S_7fSqW20HjgUsc3OV3gHHMdnnsQHU_Phks4Fvx5n2Hy/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgddO-jhTa25ywhVlcXWdvBABq7Rqf8fBI1q10rRyIbRariyUY-H6WJNEimB7viau73v4KkdSZgaKkmRrEoGlVARFS0DP2ver9FpRKOwa-NfEApmKKU_VnpLqzNd9fiHxEaJUbJ2_t4UE_K/

"Bác học điên" Nikola Tesla đã có những ý tưởng khó tin về khoa học như: điều khiển thời tiết, khai thác năng lượng vũ trụ, điện không dây...
Nikola Tesla là một nhà phát minh, nhà vật lý, kỹ sư cơ khí và kỹ sư điện tử được biết đến với nhiều đóng góp mang tính cách mạng trong các lĩnh vực điện và từ trường trong cuối thế kỷ 19 đầu thế kỉ 20. Vì tính cách lập dị và những tuyên bố kỳ lạ, khó tin về sự phát triển của khoa học kỹ thuật, Tesla bị cô lập và bị coi là một nhà bác học điên lúc cuối đời.
Dưới đây là những ý tưởng điên rồ, không thực tế nổi tiếng khiến người ta gán cho ông biệt danh "bác học điên".

1. Khai thác tia vũ trụ

10 phát minh
Tesla từng nghĩ đến ý tưởng khai thác nguồn năng lượng miễn phí đến từ những hạt nguyên tử, các loài tia đầy rẫy trong vũ trụ. Đây là ý tưởng bị coi là khoa học giả tưởng với hầu hết các nhà nghiên cứu vì nó không thực tế.
Những Tesla lại tin rằng có thể thiết kế một chiếc máy khả thi để khai thác nguồn năng lượng này và chấm dứt vấn đề khan hiếm từ Trái Đất.
Các hạt vũ trụ siêu nhỏ này liên tục rơi xuống mặt đất với tốc độ nhanh hơn ánh sáng và ông nghĩ có thể "bắt" được chúng để chuyển đổi thành năng lượng sử dụng được. Rất tiếc, phát minh của ông chưa từng được sản xuất.

2. Điện cảm ứng

10 phát minh
Tesla mơ ước một thế giới không tồn tại dây điện phức tạp. Ông đề xuất một hệ thống điện không dây bao gồm một tháp truyền điện và năng lượng không dây đến mọi ngõ ngách trên hành tinh. Ông đã chứng minh ý tưởng này qua thí nghiệm về sự truyền dẫn cảm ứng để đốt sáng một cái bóng đèn ở khoảng cách ngắn.
Ông bắt tay xây dựng tháp Wardenclyffe ở New York nhưng sau đó bị rút nguồn tài trợ của JP Morgan vì họ phát hiện ý đồ thật sự của ông chứ không phải xây dựng tháp viễn thông. Đây là bước cuối cùng trong hệ thống điện không dây của Tesla và được kết hợp với phát minh máy thu năng lượng vũ trụ. Nếu thành công, thế giới sẽ được sử dụng điện miễn phí và không giới hạn chỉ bằng một cái ăng-ten.
Phát minh của Tesla bị chính phủ phản đối kịch liệt vì nó không thu được lợi nhuận. Tuy nhiên, mới đây các nhà khoa học đã thắp sáng được bóng đèn bằng điện không dây ở khoảng cách 7 mét.

3. Đốt lạnh

10 phát minh
Phát minh này hy vọng sẽ thay thế được xà phòng và nước trong sinh hoạt. Tesla muốn thay thế điện với nước vì điện là kẻ thù lớn nhất của vi trùng.
Sự đốt lạnh nghĩa là đốt cháy nhưng không gây bỏng, người ta sẽ đứng trên một tấm kim loại và được phủ trong nguồn điện luân phiên đến 2,5 triệu volt giống như một ngọn lửa trùm lên cơ thể.
Phương pháp này hiệu quả vì da người có tính dẫn điện. Nó còn có tác dụng chữa bệnh vì nguồn điện mạnh có thể sinh ra lượng lớn khí ozon khử trùng có lợi cho sức khỏe.
Vấn đề chi phí và an toàn cho người sử dụng đã biến ý tưởng "đốt lạnh" thành mơ hồ.

4. Teslascope

10 phát minh
Nỗ lực lớn nhất mà Nikola Tesla luôn cố gắng là tạo ra thiết bị giao tiếp với người ngoài hành tinh.
Ông tuyên bố có thể giao tiếp với những nền văn minh xa xôi bằng Teslascope nhưng chưa có ai xác minh những gì ông nói.
Ông đã nghe thấy nhiều âm thanh khác nhau không giống bất cứ thứ gì từng biết và những tiếng click tương tự bộ mã Morse.
Sử dụng chiếc kính Teslascope của mình, ông hy vọng chứng minh sự tồn tại của sự sống trên sao Hỏa.

5. Máy phát tia chết chóc

10 phát minh
Đây là phát minh nguy hiểm của Tesla trong nỗ lực chống lại chiến tranh. Death Ray - Tia chết chóc làm việc như một máy gia tốc hạt có khả năng bắn một chùm tia năng lượng cao tới khoảng cách 250 dặm để làm tan chảy mọi động cơ và máy bay chiến đấu.
Tesla đã đề xuất ý tưởng cho JP Morgan để xin tài trợ và khẳng định với dòng năng lượng 80 triệu volt, chùm tia có thể xuyên thủng bất cứ vật liệu gì.
Lập luận của ông khá thuyết phục nhưng chính phủ Anh và Mỹ đều từ chối. Nước Nga đã ủng hộ Tesla và cho chạy thử nghiệm phát minh này. Nhiều nhà lý thuyết âm mưu cho rằng chính hoạt động chế tạo này đã gây ra
vụ nổ Tunguska (30/7/1908).

6. Điều khiển thời tiết

10 phát minh
Một trong những thách thức lớn nhất của con người là khả năng kiểm soát thời tiết. Tesla nghĩ rằng ông có thể làm cho đất đai màu mỡ nhờ sử dụng sóng vô tuyến điện để thay đổi từ trường Trái Đất trong tầng điện ly của khí quyển, hình thành các sóng khí quyển cực mạnh điều khiển thời tiết.
Một lần nữa, thuyết âm mưu cho rằng phát minh của ông đã rơi vào tay kẻ xấu và đang được chúng sử dụng để thống trị nhân loại. Bằng chứng là sự thay đổi khí hậu, thời tiết cực đoan ngày một nhiều hiện nay.

7. Súng tia X

10 phát minh
Việc phát hiện ra tia X của William Roentgen thu hút giới khoa học, đặc biệt là Tesla. Ông mở rộng phát mình thành một khẩu sung bắn tia X - quang, lợi hại cùng với Mark Twain - họ trở thành đôi bạn thân sau khi Tesla chữa khỏi bệnh táo bón cho đại thi hào này.
Sử dụng khẩu súng này, 2 ông có thể nhìn xuyên thấu bất cứ vật gì mà chùm tia đi qua ở khoảng cách 12 mét. Sáng chế tưởng chừng bị lãng quên giờ lại trở thành một ứng dụng không thể thiếu trong y học ngày nay.

8. Dòng điện xoay chiều

10 phát minh
Nikola Tesla bắt đầu hợp tác với Thomas Edison năm 1882 khi ông chuyển tới Paris làm việc cho công ty Continetal Edison. Đây là thời gian đầu khi Tesla được giới khoa học công nhận tài năng. Edison đã gợi ý trả 50.000 đô cho Tesla để sửa chữa chiếc máy phát điện của mình mặc dù sau đó không thấy ông trả khoản tiền đó cho cộng sự.
Điều này buộc Tesla tách riêng và lập công ty, nơi ông phát triển loại điện mới gọi là dòng điện xoay chiều có khả năng truyền tải khoảng cách xa và tiết kiệm. Edison đã rất tức giận và kêu gọi mọi người biểu tình, thậm chí dọa đốt nhà xưởng.
Tesla đã chứng minh dòng điện của mình đủ thắp sáng bóng đèn mà không gặp bất cứ nguy hiểm nào ở triển lãm năm 1893.

9. Thắp sáng thế giới

10 phát minh
Một lần nữa, Tesla muốn cho cả thế giới thấy tài năng của mình bằng sáng chế ra loại hạt khí loãng nhạy cảm với năng lượng để phát sáng cho cả hành tinh. Ông lên kế hoạch sử dụng một loại tia cực mạnh như tia cực tím bắn vào các hạt này để chúng phát sáng như hiện tượng cực quang. Ông khiến người ta cho rằng nếu thành công, con tàu Titanic sẽ chẳng bao giờ chìm xuống mãi mãi.

10. Máy giao động của Tesla

10 phát minh
Tất cả vạn vật đều tạo từ nguyên tử và mỗi nguyên tử lại rung động ở tần số khác nhau. Nếu gặp phải tần số phù hợp thì sẽ cộng hưởng thành tần số rung có biên độ cao hơn. Gần giống như hiện tượng chiếc cầu treo rung lắc theo nhịp của một cơn gió nhẹ cũng đủ để nó sập.
Dựa vào lý thuyết ấy, Tesla phát minh chiếc máy phá hủy bỏ túi tạo ra những tần số rung khác nhau. Ông kể lại là khi bật chiếc máy đó lần đầu tiên, một tiếng động lạ vang lên và những vết nứt đầu tiên xuất hiện. Mọi thứ rung lên bần bật cho tới khi cảnh sát ập tới đạp vỡ cái máy trước khi tòa nhà sụp đổ.
Khi được hỏi về cách cái máy có thể phá hủy được tòa nhà Empire State không. Tesla trả lời rằng chỉ cần có đủ thời gian tìm ra tần số phù hợp, chiếc máy sẽ truyền một lượng lớn năng lượng cơ học để phá hủy bất cứ thứ gì.
Phát minh của ông được nhiều người ủng hộ vì chứa một sức mạnh to lớn trong chữa bệnh nếu nó tìm đúng tần số rung của khối u, của căn bệnh trong cơ thể để phá hủy hoàn toàn mà không ảnh hưởng đến những bộ phận khác.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg6lJ3KD_ZM2IxfUIy74AaAp-qShhXimGgiz7Mh1OWRggGfdPaaxbc50awiCI3kOchRka6SxIGC30sy25Yf9rpfPvOM5tdjx4zIXCh-FPozrk6DsU78t12tAAre3H8KplTdCLNzHJaSYmI/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgUoViDlf1ikg12GnpdHOKApEoFV80J14s0jifcdkHhvJw9noWjCHOzI0KQoGUhG6gu9010fcrx21W8SDLlOZJ0REJqCs8tWB3XbMx4Hu2dh09_zy2Y9n67O1vNCHBMyWj-iLiVwVIJuaU/
Phát minh
8:30 PM|

"Bác học điên" Nikola Tesla đã có những ý tưởng khó tin về khoa học như: điều khiển thời tiết, khai thác năng lượng vũ trụ, điện không dây...
Nikola Tesla là một nhà phát minh, nhà vật lý, kỹ sư cơ khí và kỹ sư điện tử được biết đến với nhiều đóng góp mang tính cách mạng trong các lĩnh vực điện và từ trường trong cuối thế kỷ 19 đầu thế kỉ 20. Vì tính cách lập dị và những tuyên bố kỳ lạ, khó tin về sự phát triển của khoa học kỹ thuật, Tesla bị cô lập và bị coi là một nhà bác học điên lúc cuối đời.
Dưới đây là những ý tưởng điên rồ, không thực tế nổi tiếng khiến người ta gán cho ông biệt danh "bác học điên".

1. Khai thác tia vũ trụ

10 phát minh
Tesla từng nghĩ đến ý tưởng khai thác nguồn năng lượng miễn phí đến từ những hạt nguyên tử, các loài tia đầy rẫy trong vũ trụ. Đây là ý tưởng bị coi là khoa học giả tưởng với hầu hết các nhà nghiên cứu vì nó không thực tế.
Những Tesla lại tin rằng có thể thiết kế một chiếc máy khả thi để khai thác nguồn năng lượng này và chấm dứt vấn đề khan hiếm từ Trái Đất.
Các hạt vũ trụ siêu nhỏ này liên tục rơi xuống mặt đất với tốc độ nhanh hơn ánh sáng và ông nghĩ có thể "bắt" được chúng để chuyển đổi thành năng lượng sử dụng được. Rất tiếc, phát minh của ông chưa từng được sản xuất.

2. Điện cảm ứng

10 phát minh
Tesla mơ ước một thế giới không tồn tại dây điện phức tạp. Ông đề xuất một hệ thống điện không dây bao gồm một tháp truyền điện và năng lượng không dây đến mọi ngõ ngách trên hành tinh. Ông đã chứng minh ý tưởng này qua thí nghiệm về sự truyền dẫn cảm ứng để đốt sáng một cái bóng đèn ở khoảng cách ngắn.
Ông bắt tay xây dựng tháp Wardenclyffe ở New York nhưng sau đó bị rút nguồn tài trợ của JP Morgan vì họ phát hiện ý đồ thật sự của ông chứ không phải xây dựng tháp viễn thông. Đây là bước cuối cùng trong hệ thống điện không dây của Tesla và được kết hợp với phát minh máy thu năng lượng vũ trụ. Nếu thành công, thế giới sẽ được sử dụng điện miễn phí và không giới hạn chỉ bằng một cái ăng-ten.
Phát minh của Tesla bị chính phủ phản đối kịch liệt vì nó không thu được lợi nhuận. Tuy nhiên, mới đây các nhà khoa học đã thắp sáng được bóng đèn bằng điện không dây ở khoảng cách 7 mét.

3. Đốt lạnh

10 phát minh
Phát minh này hy vọng sẽ thay thế được xà phòng và nước trong sinh hoạt. Tesla muốn thay thế điện với nước vì điện là kẻ thù lớn nhất của vi trùng.
Sự đốt lạnh nghĩa là đốt cháy nhưng không gây bỏng, người ta sẽ đứng trên một tấm kim loại và được phủ trong nguồn điện luân phiên đến 2,5 triệu volt giống như một ngọn lửa trùm lên cơ thể.
Phương pháp này hiệu quả vì da người có tính dẫn điện. Nó còn có tác dụng chữa bệnh vì nguồn điện mạnh có thể sinh ra lượng lớn khí ozon khử trùng có lợi cho sức khỏe.
Vấn đề chi phí và an toàn cho người sử dụng đã biến ý tưởng "đốt lạnh" thành mơ hồ.

4. Teslascope

10 phát minh
Nỗ lực lớn nhất mà Nikola Tesla luôn cố gắng là tạo ra thiết bị giao tiếp với người ngoài hành tinh.
Ông tuyên bố có thể giao tiếp với những nền văn minh xa xôi bằng Teslascope nhưng chưa có ai xác minh những gì ông nói.
Ông đã nghe thấy nhiều âm thanh khác nhau không giống bất cứ thứ gì từng biết và những tiếng click tương tự bộ mã Morse.
Sử dụng chiếc kính Teslascope của mình, ông hy vọng chứng minh sự tồn tại của sự sống trên sao Hỏa.

5. Máy phát tia chết chóc

10 phát minh
Đây là phát minh nguy hiểm của Tesla trong nỗ lực chống lại chiến tranh. Death Ray - Tia chết chóc làm việc như một máy gia tốc hạt có khả năng bắn một chùm tia năng lượng cao tới khoảng cách 250 dặm để làm tan chảy mọi động cơ và máy bay chiến đấu.
Tesla đã đề xuất ý tưởng cho JP Morgan để xin tài trợ và khẳng định với dòng năng lượng 80 triệu volt, chùm tia có thể xuyên thủng bất cứ vật liệu gì.
Lập luận của ông khá thuyết phục nhưng chính phủ Anh và Mỹ đều từ chối. Nước Nga đã ủng hộ Tesla và cho chạy thử nghiệm phát minh này. Nhiều nhà lý thuyết âm mưu cho rằng chính hoạt động chế tạo này đã gây ra vụ nổ Tunguska (30/7/1908).

6. Điều khiển thời tiết

10 phát minh
Một trong những thách thức lớn nhất của con người là khả năng kiểm soát thời tiết. Tesla nghĩ rằng ông có thể làm cho đất đai màu mỡ nhờ sử dụng sóng vô tuyến điện để thay đổi từ trường Trái Đất trong tầng điện ly của khí quyển, hình thành các sóng khí quyển cực mạnh điều khiển thời tiết.
Một lần nữa, thuyết âm mưu cho rằng phát minh của ông đã rơi vào tay kẻ xấu và đang được chúng sử dụng để thống trị nhân loại. Bằng chứng là sự thay đổi khí hậu, thời tiết cực đoan ngày một nhiều hiện nay.

7. Súng tia X

10 phát minh
Việc phát hiện ra tia X của William Roentgen thu hút giới khoa học, đặc biệt là Tesla. Ông mở rộng phát mình thành một khẩu sung bắn tia X - quang, lợi hại cùng với Mark Twain - họ trở thành đôi bạn thân sau khi Tesla chữa khỏi bệnh táo bón cho đại thi hào này.
Sử dụng khẩu súng này, 2 ông có thể nhìn xuyên thấu bất cứ vật gì mà chùm tia đi qua ở khoảng cách 12 mét. Sáng chế tưởng chừng bị lãng quên giờ lại trở thành một ứng dụng không thể thiếu trong y học ngày nay.

8. Dòng điện xoay chiều

10 phát minh
Nikola Tesla bắt đầu hợp tác với Thomas Edison năm 1882 khi ông chuyển tới Paris làm việc cho công ty Continetal Edison. Đây là thời gian đầu khi Tesla được giới khoa học công nhận tài năng. Edison đã gợi ý trả 50.000 đô cho Tesla để sửa chữa chiếc máy phát điện của mình mặc dù sau đó không thấy ông trả khoản tiền đó cho cộng sự.
Điều này buộc Tesla tách riêng và lập công ty, nơi ông phát triển loại điện mới gọi là dòng điện xoay chiều có khả năng truyền tải khoảng cách xa và tiết kiệm. Edison đã rất tức giận và kêu gọi mọi người biểu tình, thậm chí dọa đốt nhà xưởng.
Tesla đã chứng minh dòng điện của mình đủ thắp sáng bóng đèn mà không gặp bất cứ nguy hiểm nào ở triển lãm năm 1893.

9. Thắp sáng thế giới

10 phát minh
Một lần nữa, Tesla muốn cho cả thế giới thấy tài năng của mình bằng sáng chế ra loại hạt khí loãng nhạy cảm với năng lượng để phát sáng cho cả hành tinh. Ông lên kế hoạch sử dụng một loại tia cực mạnh như tia cực tím bắn vào các hạt này để chúng phát sáng như hiện tượng cực quang. Ông khiến người ta cho rằng nếu thành công, con tàu Titanic sẽ chẳng bao giờ chìm xuống mãi mãi.

10. Máy giao động của Tesla

10 phát minh
Tất cả vạn vật đều tạo từ nguyên tử và mỗi nguyên tử lại rung động ở tần số khác nhau. Nếu gặp phải tần số phù hợp thì sẽ cộng hưởng thành tần số rung có biên độ cao hơn. Gần giống như hiện tượng chiếc cầu treo rung lắc theo nhịp của một cơn gió nhẹ cũng đủ để nó sập.
Dựa vào lý thuyết ấy, Tesla phát minh chiếc máy phá hủy bỏ túi tạo ra những tần số rung khác nhau. Ông kể lại là khi bật chiếc máy đó lần đầu tiên, một tiếng động lạ vang lên và những vết nứt đầu tiên xuất hiện. Mọi thứ rung lên bần bật cho tới khi cảnh sát ập tới đạp vỡ cái máy trước khi tòa nhà sụp đổ.
Khi được hỏi về cách cái máy có thể phá hủy được tòa nhà Empire State không. Tesla trả lời rằng chỉ cần có đủ thời gian tìm ra tần số phù hợp, chiếc máy sẽ truyền một lượng lớn năng lượng cơ học để phá hủy bất cứ thứ gì.
Phát minh của ông được nhiều người ủng hộ vì chứa một sức mạnh to lớn trong chữa bệnh nếu nó tìm đúng tần số rung của khối u, của căn bệnh trong cơ thể để phá hủy hoàn toàn mà không ảnh hưởng đến những bộ phận khác.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg6lJ3KD_ZM2IxfUIy74AaAp-qShhXimGgiz7Mh1OWRggGfdPaaxbc50awiCI3kOchRka6SxIGC30sy25Yf9rpfPvOM5tdjx4zIXCh-FPozrk6DsU78t12tAAre3H8KplTdCLNzHJaSYmI/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgUoViDlf1ikg12GnpdHOKApEoFV80J14s0jifcdkHhvJw9noWjCHOzI0KQoGUhG6gu9010fcrx21W8SDLlOZJ0REJqCs8tWB3XbMx4Hu2dh09_zy2Y9n67O1vNCHBMyWj-iLiVwVIJuaU/

Vi vu bằng xe đạp không những là cách thú vị để nhìn ngắm cảnh đẹp ven đường và rèn luyện sức khỏe mà còn giúp bạn thoát khỏi nạn kẹt xe ở nơi thành thị đông đúc. Nhưng lắm lúc người đi xe đạp cũng gặp nhiều phiền toái như bị mắc mưa, trầy xước do té ngã và thậm chí là mất trộm “xế cưng”. 3 ý tưởng thiết kế thú vị mà trang tin công nghệ Gizmag vừa giới thiệu sẽ giúp người đi xe đạp tránh được các rủi ro này.

Yerka - Xe đạp kiêm ổ khóa

Dự án thiết kế xe đạp Yerka là công trình nghiên cứu chung của 3 sinh viên ngành cơ khí đến từ Chile – Andrés Roi, Cristóbal Cabello và Juan José Monsalve – với mục đích tạo ra một chiếc xe đạp mà phần khung xe đảm trách luôn vai trò của một ổ khóa.

Những phát minh độc đáo hỗ trợ người đi xe đạp

Theo đó, đoạn khung nối từ cổ xe tới bàn đạp của Yerka có thể mở ra, cho phép người dùng luồn cả sườn xe vào một vật thể cố định và chắc chắn, chẳng hạn như cột đèn hoặc thân cây (ảnh). Sau đó, người dùng chỉ việc rút ống sắt nối liền với yên xe ra rồi ráp với đầu kia của sườn xe để tạo thành ổ khóa. Toàn bộ quy trình khóa xe chỉ mất 20 giây. Ý tưởng của nhóm thiết kế là nếu tên trộm muốn “bẻ khóa” thì cũng đồng nghĩa chúng bẻ luôn toàn bộ khung xe, khiến chiếc xe trở nên vô dụng - điều mà ngay cả một tên trộm khờ khạo nhất cũng biết đó là hành động ngu ngốc.

Tuy mới cho ra đời chiếc xe nguyên mẫu đầu tiên, nhưng nhóm sinh viên chủ trì dự án đang tràn trề hy vọng sáng kiến của họ sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư ủng hộ để thương mại hóa mẫu xe đạp thú vị này.

Dryve - Mái che di động của xe đạp

Không ai thích việc bị mắc mưa khi đang đạp xe, nhưng hầu hết chúng ta thường không thể kiếm một chỗ trú mưa ngay lập tức. Đó là lý do tại sao công ty Thụy Sĩ Allnew gần đây tung ra Dryve - một loại mái che mềm dẻo, có thể tháo ráp dễ dàng dành cho xe đạp.

Những phát minh độc đáo hỗ trợ người đi xe đạp

Phụ kiện này nặng khoảng 850 gram, có thể được gắn chắc chắn vào phần tay lái và phía sau của yên xe chỉ trong 30 giây, tạo thành một mái che hình vòng cung từ trước ra sau (ảnh). Mặc dù trước mặt và sau lưng của người đi xe đạp hầu như được che mưa an toàn, nhưng hai bên hông thì thông thoáng để họ vẫn cảm thấy thoải mái khi vận động. Bên cạnh đó, Dryve còn được thiết kế một “kính chắn gió” ngay trước mặt của người dùng nhằm đảm bảo tầm nhìn phía trước họ luôn rõ hơn so với lớp chất liệu bằng nhựa còn lại của mái che.

Khi không sử dụng, người dùng có thể xếp Dryve lại, sau đó cất gọn trong bao đựng rồi đặt ở phía sau xe để mang theo suốt hành trình. Mẫu mái che tiện lợi này được giới thiệu tại Triển lãm thương mại về xe đạp lớn nhất thế giới - Eurobike 2014 ở Đức, nhưng Allnew chưa đưa ra giá cả cụ thể cũng như thời điểm tung nó ra thị trường.

ITD ProTec – Trang phục chống trầy xước

Những phát minh độc đáo hỗ trợ người đi xe đạp

Đối với những người thường xuyên đi xe đạp, việc bị trầy xước một số phần trên thân thể như vai và hông là điều không tránh khỏi mỗi khi té ngã. Nhằm bảo vệ các khu vực dễ chấn thương này, 2 công ty Thụy Sĩ - Scott Sports và Schoeller Textiles - đã hợp tác phát triển dòng trang phục thể thao mới làm từ loại vải “chống trầy da” ITD ProTec.

Thay vì dệt vải từ các sợi nylon truyền thống, ITD ProTec được dệt từ các sợi carbon và gia cố bằng một lớp vật liệu làm bằng vô số hạt gốm rất cứng. Theo Scott Sports, sự kết hợp này tạo nên một loại vải có độ bền chắc đáng kể cùng khả năng chống bào mòn cao hơn, giúp bảo vệ da của người mặc khỏi bị trầy trụa do ma sát với mặt đường khi té ngã.

Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đổi lại.

 
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhoSTLtHBmQGldO7yulr5HZJjlUX0fzU3WGY0nP19uhUOeajwn84d4VwhUmCoX3rM7NRwJRR9LxZPt9hqskAE4Vd9EJGlM3WkNLFQNm1f5qDZtzVKF-AhjtLqwD_o9sG-IsOTNpDehPLg4/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEimRtkL3AN5T4-vh7v01ncrYl2UruOGutEXtmiWMedjb-VcGamTIFyYr0zktge0FmvhDTwToORLjC7OaE1MjrNHUnwN7FBD_A5EiHtTW5weQ1uNkrKxMtGgRqOYqSOJezvOh6STpRjxwrQ/
Phát minh
8:28 PM|

Vi vu bằng xe đạp không những là cách thú vị để nhìn ngắm cảnh đẹp ven đường và rèn luyện sức khỏe mà còn giúp bạn thoát khỏi nạn kẹt xe ở nơi thành thị đông đúc. Nhưng lắm lúc người đi xe đạp cũng gặp nhiều phiền toái như bị mắc mưa, trầy xước do té ngã và thậm chí là mất trộm “xế cưng”. 3 ý tưởng thiết kế thú vị mà trang tin công nghệ Gizmag vừa giới thiệu sẽ giúp người đi xe đạp tránh được các rủi ro này.

Yerka - Xe đạp kiêm ổ khóa

Dự án thiết kế xe đạp Yerka là công trình nghiên cứu chung của 3 sinh viên ngành cơ khí đến từ Chile – Andrés Roi, Cristóbal Cabello và Juan José Monsalve – với mục đích tạo ra một chiếc xe đạp mà phần khung xe đảm trách luôn vai trò của một ổ khóa.

Những phát minh độc đáo hỗ trợ người đi xe đạp

Theo đó, đoạn khung nối từ cổ xe tới bàn đạp của Yerka có thể mở ra, cho phép người dùng luồn cả sườn xe vào một vật thể cố định và chắc chắn, chẳng hạn như cột đèn hoặc thân cây (ảnh). Sau đó, người dùng chỉ việc rút ống sắt nối liền với yên xe ra rồi ráp với đầu kia của sườn xe để tạo thành ổ khóa. Toàn bộ quy trình khóa xe chỉ mất 20 giây. Ý tưởng của nhóm thiết kế là nếu tên trộm muốn “bẻ khóa” thì cũng đồng nghĩa chúng bẻ luôn toàn bộ khung xe, khiến chiếc xe trở nên vô dụng - điều mà ngay cả một tên trộm khờ khạo nhất cũng biết đó là hành động ngu ngốc.

Tuy mới cho ra đời chiếc xe nguyên mẫu đầu tiên, nhưng nhóm sinh viên chủ trì dự án đang tràn trề hy vọng sáng kiến của họ sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư ủng hộ để thương mại hóa mẫu xe đạp thú vị này.

Dryve - Mái che di động của xe đạp

Không ai thích việc bị mắc mưa khi đang đạp xe, nhưng hầu hết chúng ta thường không thể kiếm một chỗ trú mưa ngay lập tức. Đó là lý do tại sao công ty Thụy Sĩ Allnew gần đây tung ra Dryve - một loại mái che mềm dẻo, có thể tháo ráp dễ dàng dành cho xe đạp.

Những phát minh độc đáo hỗ trợ người đi xe đạp

Phụ kiện này nặng khoảng 850 gram, có thể được gắn chắc chắn vào phần tay lái và phía sau của yên xe chỉ trong 30 giây, tạo thành một mái che hình vòng cung từ trước ra sau (ảnh). Mặc dù trước mặt và sau lưng của người đi xe đạp hầu như được che mưa an toàn, nhưng hai bên hông thì thông thoáng để họ vẫn cảm thấy thoải mái khi vận động. Bên cạnh đó, Dryve còn được thiết kế một “kính chắn gió” ngay trước mặt của người dùng nhằm đảm bảo tầm nhìn phía trước họ luôn rõ hơn so với lớp chất liệu bằng nhựa còn lại của mái che.

Khi không sử dụng, người dùng có thể xếp Dryve lại, sau đó cất gọn trong bao đựng rồi đặt ở phía sau xe để mang theo suốt hành trình. Mẫu mái che tiện lợi này được giới thiệu tại Triển lãm thương mại về xe đạp lớn nhất thế giới - Eurobike 2014 ở Đức, nhưng Allnew chưa đưa ra giá cả cụ thể cũng như thời điểm tung nó ra thị trường.

ITD ProTec – Trang phục chống trầy xước

Những phát minh độc đáo hỗ trợ người đi xe đạp

Đối với những người thường xuyên đi xe đạp, việc bị trầy xước một số phần trên thân thể như vai và hông là điều không tránh khỏi mỗi khi té ngã. Nhằm bảo vệ các khu vực dễ chấn thương này, 2 công ty Thụy Sĩ - Scott Sports và Schoeller Textiles - đã hợp tác phát triển dòng trang phục thể thao mới làm từ loại vải “chống trầy da” ITD ProTec.

Thay vì dệt vải từ các sợi nylon truyền thống, ITD ProTec được dệt từ các sợi carbon và gia cố bằng một lớp vật liệu làm bằng vô số hạt gốm rất cứng. Theo Scott Sports, sự kết hợp này tạo nên một loại vải có độ bền chắc đáng kể cùng khả năng chống bào mòn cao hơn, giúp bảo vệ da của người mặc khỏi bị trầy trụa do ma sát với mặt đường khi té ngã.

Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đổi lại.

 
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhoSTLtHBmQGldO7yulr5HZJjlUX0fzU3WGY0nP19uhUOeajwn84d4VwhUmCoX3rM7NRwJRR9LxZPt9hqskAE4Vd9EJGlM3WkNLFQNm1f5qDZtzVKF-AhjtLqwD_o9sG-IsOTNpDehPLg4/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEimRtkL3AN5T4-vh7v01ncrYl2UruOGutEXtmiWMedjb-VcGamTIFyYr0zktge0FmvhDTwToORLjC7OaE1MjrNHUnwN7FBD_A5EiHtTW5weQ1uNkrKxMtGgRqOYqSOJezvOh6STpRjxwrQ/

Nhà thiết kế James Dyson vừa phát minh thành công máy hút bụi chân không đầu tiên trên thế giới có tầm nhìn 360 độ.
Máy hút bụi “The Dyson 360 Eye” là một robot chân không thông minh, được trang bị ống kính có khả năng tầm soát 360 độ, dùng phần mềm thiết lập bản đồ môi trường xung quanh. Đồng thời, sử dụng cảm biến hồng ngoại để tránh va chạm đồ nội thất xung quanh.
Máy hút bụi chân không có tầm nhìn 360 độ
Máy hút bụi chân không đầu tiên trên thế giới có tầm nhìn 360 độ, nặng khoảng 2,37kg - (Ảnh: Daily Mail)

Người sử dụng có thể dùng điện thoại thông minh gửi lịch trình làm việc đến robot, sau đó nó tự động làm việc mà không cần bất kỳ sự giám sát nào.
Máy ảnh trên robot có tần suất hoạt động 30 ảnh/giây. Robot sử dụng động cơ kỹ thuật số Dyson V2, tạo sức hút lên đến 78.000RPM, cao hơn bất kỳ robot chân không nào.
Ngoài ra, The Dyson 360 Eye sử dụng công nghệ “Cyclone Bagless” hút sạch bụi bẩn và chất gây dị ứng trong không khí.
Bánh xe robot được thiết kế thích hợp với mọi loại sàn nhà khác nhau. Khi hết pin, robot tự động trở về để sạc và làm việc lại khi đầy pin. Với công nghệ sợi cacbon tiên tiến, The Dyson 360 Eye có thể phát hiện các hạt bụi nhỏ hơn 0,5 micron trên sàn cứng, thảm hay gỗ.
Sản phẩm được phát triển trong vòng 16 năm bởi đội ngũ 200 kỹ sư của Dyson, được bán trên thị trường vào mùa hè tới tại Anh với giá khoảng 750 bảng Anh.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhpzrfnw2iMjK3oe2NhSsfaZecVnECtuFcj7x0Bs0h5BCRLVvUtbP5mGxyfknz_8SA6vwvMq7o2Y4PyJ-9BBoCpVXMFzhxg-rxnOmofU-FJKcJK5IWP0tUGlStY-7p5M15ra43iqLpDU_Y/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEijunRv0HAf62o0rBZBrICSGAW6A2J3wMIyRdiJtZxTjCEOvCADhU_RH9H8W7FiNhN_kW6aN1p1KKsytaAfENbEKDdiaBUa_iFZFpd9WSVJArD8TPopSApLzuWPIe6Tif5QtDXx2CIsk1I/
Phát minh
8:28 PM|

Nhà thiết kế James Dyson vừa phát minh thành công máy hút bụi chân không đầu tiên trên thế giới có tầm nhìn 360 độ.
Máy hút bụi “The Dyson 360 Eye” là một robot chân không thông minh, được trang bị ống kính có khả năng tầm soát 360 độ, dùng phần mềm thiết lập bản đồ môi trường xung quanh. Đồng thời, sử dụng cảm biến hồng ngoại để tránh va chạm đồ nội thất xung quanh.
Máy hút bụi chân không có tầm nhìn 360 độ
Máy hút bụi chân không đầu tiên trên thế giới có tầm nhìn 360 độ, nặng khoảng 2,37kg - (Ảnh: Daily Mail)

Người sử dụng có thể dùng điện thoại thông minh gửi lịch trình làm việc đến robot, sau đó nó tự động làm việc mà không cần bất kỳ sự giám sát nào.
Máy ảnh trên robot có tần suất hoạt động 30 ảnh/giây. Robot sử dụng động cơ kỹ thuật số Dyson V2, tạo sức hút lên đến 78.000RPM, cao hơn bất kỳ robot chân không nào.
Ngoài ra, The Dyson 360 Eye sử dụng công nghệ “Cyclone Bagless” hút sạch bụi bẩn và chất gây dị ứng trong không khí.
Bánh xe robot được thiết kế thích hợp với mọi loại sàn nhà khác nhau. Khi hết pin, robot tự động trở về để sạc và làm việc lại khi đầy pin. Với công nghệ sợi cacbon tiên tiến, The Dyson 360 Eye có thể phát hiện các hạt bụi nhỏ hơn 0,5 micron trên sàn cứng, thảm hay gỗ.
Sản phẩm được phát triển trong vòng 16 năm bởi đội ngũ 200 kỹ sư của Dyson, được bán trên thị trường vào mùa hè tới tại Anh với giá khoảng 750 bảng Anh.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhpzrfnw2iMjK3oe2NhSsfaZecVnECtuFcj7x0Bs0h5BCRLVvUtbP5mGxyfknz_8SA6vwvMq7o2Y4PyJ-9BBoCpVXMFzhxg-rxnOmofU-FJKcJK5IWP0tUGlStY-7p5M15ra43iqLpDU_Y/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEijunRv0HAf62o0rBZBrICSGAW6A2J3wMIyRdiJtZxTjCEOvCADhU_RH9H8W7FiNhN_kW6aN1p1KKsytaAfENbEKDdiaBUa_iFZFpd9WSVJArD8TPopSApLzuWPIe6Tif5QtDXx2CIsk1I/

Chắc hẳn không ít người trong số chúng ta đã từng phải đi chụp phim X-Quang. Ngày nay kỹ thuật này được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực y tế và các ngành công nghiệp. Bên cạnh tên gọi thông thường, tia X còn được biết với tên tia Rơnghen, theo tên người phát hiện ra nó.

Từ rất lâu tia X đã được dùng để phát hiện các vấn đề về xương, răng và cơ quan nội tạng trong cơ thể người, cũng như những khiếm khuyết kỹ thuật trong các ngành công nghiệp, hay thậm chí dùng để kiểm tra hành lý ở sân bay. Mặc dù có rất nhiều ứng dụng như vậy, nhưng việc phát hiện ra tia X lại chỉ là một sự vô tình. Cộng đồng khoa học và y khoa thế giới sẽ mãi mang ơn khám phá tình cờ của nhà vật lý người Đức, Wilhelm Conrad Röntgen (ở Việt Nam thường được gọi là Rơnghen) vào ngày 8/11/1895.

Tia X - Phát minh vĩ đại của thế kỷ 19
Nhà vật lý người Đức Wilhelm Conrad Röntgen (1845-1923)

Trong khi đang tiến hành thí nghiệm với dòng điện chạy qua ống tia ca-tốt bằng thủy tinh, Röntgen đã phát hiện ra một mảnh barium platinocyanide (BaPt(CN)4) vẫn phát sáng mặc dù ống ca-tốt đã được bọc bằng bìa cứng và nằm ở tận đầu kia của căn phòng. Ông đã đưa ra giả thuyết rằng phải có một loại bức xạ nào đó đang chiếu ngang qua phòng. Khi đó Röntgen đã không hiểu được hoàn toàn phát hiện của mình, vì vậy ông đặt tên cho loại tia đó là tia X – một ẩn số chưa được giải đáp của tự nhiên.

Để kiểm chứng giả thuyết mới của mình, Röntgen đã nhờ vợ mình làm mẫu cho bức ảnh chụp bằng tia X đầu tiên – hình ảnh về xương bàn tay và chiếc nhẫn cưới của bà mà về sau được biết đến là bức röntgenogram đầu tiên. Ông đã phát hiện ra rằng khi đặt trong bóng tối hoàn toàn, tia X sẽ đi xuyên qua các vật thể có mật độ vật chất khác nhau, từ đó dựng lại khá rõ các cơ bắp và thớ thịt trên bàn tay của vợ ông. Những đoạn xương và chiếc nhẫn dày hơn thì sẽ để lại những bóng đen trên một tấm phim đặc biệt được bao phủ chất barium platinocyanide. Cũng từ đó cái tên tia X gắn liền với loại tia mới này, mặc dù đôi khi nó còn được gọi là tia Röntgen ở các nước nói tiếng Đức (và ở cả Việt Nam).

Tia X - Phát minh vĩ đại của thế kỷ 19

Khám phá của Röntgen đã thu hút được nhiều sự chú ý tới từ cộng đồng khoa học và dư luận. Vào tháng 1/1896, ông đã tiến hành bài giảng công khai đầu tiên về tia X, đồng thời trình diễn khả năng chụp hình các khớp xương ẩn sau các thớ thịt của loại tia này. Một vài tuần sau ở Canada, một chùm tia X đã được sử dụng để tìm một viên đạn mắc trong chân của một bệnh nhân.

Những giải thưởng danh tiếng đến với Röntgen ngay sau đó. Huy chương, bằng danh dự, những đường phố được đặt tên ông... Đỉnh cao của sự công nhận mà thế giới dành cho ông là giải thưởng Nobel Vật lý vào năm 1901. Dù vậy Röntgen vẫn quyết định không lấy bằng sáng chế cho phát hiện của mình, vì ông cảm thấy những tiến bộ khoa học thuộc về toàn nhân loại và không nên được dùng cho mục đích kiếm lời.

 
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj_7t0wKxLz_PMcIqiXdE7qQbAbhmtj6VG3eEjcu21sv_ajqfJRflKygt1l0qXVPUdxvKcNvsCoeTmKR_Ro-IMLIe78X_hfevnArVNs2IPRI3romsU58_XDJjWOZHga3etpqoo_bD2r5x0/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhQew-KGAPd1Y8iTfPU0H94l1OSB0gUAPQUvN-ntjuyCuaSQz2MOWjGzfK65i3ZXCs5RHS2L-TmfEHBsSBLfwebHSAl292EEXbyXgx-0s4Phv5g-yizk5SSGtSG-EuaeKY3Sk4HWlyz5ds/
Phát minh
8:28 PM|

Chắc hẳn không ít người trong số chúng ta đã từng phải đi chụp phim X-Quang. Ngày nay kỹ thuật này được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực y tế và các ngành công nghiệp. Bên cạnh tên gọi thông thường, tia X còn được biết với tên tia Rơnghen, theo tên người phát hiện ra nó.

Từ rất lâu tia X đã được dùng để phát hiện các vấn đề về xương, răng và cơ quan nội tạng trong cơ thể người, cũng như những khiếm khuyết kỹ thuật trong các ngành công nghiệp, hay thậm chí dùng để kiểm tra hành lý ở sân bay. Mặc dù có rất nhiều ứng dụng như vậy, nhưng việc phát hiện ra tia X lại chỉ là một sự vô tình. Cộng đồng khoa học và y khoa thế giới sẽ mãi mang ơn khám phá tình cờ của nhà vật lý người Đức, Wilhelm Conrad Röntgen (ở Việt Nam thường được gọi là Rơnghen) vào ngày 8/11/1895.

Tia X - Phát minh vĩ đại của thế kỷ 19
Nhà vật lý người Đức Wilhelm Conrad Röntgen (1845-1923)

Trong khi đang tiến hành thí nghiệm với dòng điện chạy qua ống tia ca-tốt bằng thủy tinh, Röntgen đã phát hiện ra một mảnh barium platinocyanide (BaPt(CN)4) vẫn phát sáng mặc dù ống ca-tốt đã được bọc bằng bìa cứng và nằm ở tận đầu kia của căn phòng. Ông đã đưa ra giả thuyết rằng phải có một loại bức xạ nào đó đang chiếu ngang qua phòng. Khi đó Röntgen đã không hiểu được hoàn toàn phát hiện của mình, vì vậy ông đặt tên cho loại tia đó là tia X – một ẩn số chưa được giải đáp của tự nhiên.

Để kiểm chứng giả thuyết mới của mình, Röntgen đã nhờ vợ mình làm mẫu cho bức ảnh chụp bằng tia X đầu tiên – hình ảnh về xương bàn tay và chiếc nhẫn cưới của bà mà về sau được biết đến là bức röntgenogram đầu tiên. Ông đã phát hiện ra rằng khi đặt trong bóng tối hoàn toàn, tia X sẽ đi xuyên qua các vật thể có mật độ vật chất khác nhau, từ đó dựng lại khá rõ các cơ bắp và thớ thịt trên bàn tay của vợ ông. Những đoạn xương và chiếc nhẫn dày hơn thì sẽ để lại những bóng đen trên một tấm phim đặc biệt được bao phủ chất barium platinocyanide. Cũng từ đó cái tên tia X gắn liền với loại tia mới này, mặc dù đôi khi nó còn được gọi là tia Röntgen ở các nước nói tiếng Đức (và ở cả Việt Nam).

Tia X - Phát minh vĩ đại của thế kỷ 19

Khám phá của Röntgen đã thu hút được nhiều sự chú ý tới từ cộng đồng khoa học và dư luận. Vào tháng 1/1896, ông đã tiến hành bài giảng công khai đầu tiên về tia X, đồng thời trình diễn khả năng chụp hình các khớp xương ẩn sau các thớ thịt của loại tia này. Một vài tuần sau ở Canada, một chùm tia X đã được sử dụng để tìm một viên đạn mắc trong chân của một bệnh nhân.

Những giải thưởng danh tiếng đến với Röntgen ngay sau đó. Huy chương, bằng danh dự, những đường phố được đặt tên ông... Đỉnh cao của sự công nhận mà thế giới dành cho ông là giải thưởng Nobel Vật lý vào năm 1901. Dù vậy Röntgen vẫn quyết định không lấy bằng sáng chế cho phát hiện của mình, vì ông cảm thấy những tiến bộ khoa học thuộc về toàn nhân loại và không nên được dùng cho mục đích kiếm lời.

 
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj_7t0wKxLz_PMcIqiXdE7qQbAbhmtj6VG3eEjcu21sv_ajqfJRflKygt1l0qXVPUdxvKcNvsCoeTmKR_Ro-IMLIe78X_hfevnArVNs2IPRI3romsU58_XDJjWOZHga3etpqoo_bD2r5x0/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhQew-KGAPd1Y8iTfPU0H94l1OSB0gUAPQUvN-ntjuyCuaSQz2MOWjGzfK65i3ZXCs5RHS2L-TmfEHBsSBLfwebHSAl292EEXbyXgx-0s4Phv5g-yizk5SSGtSG-EuaeKY3Sk4HWlyz5ds/

Dựa trên mô hình của siêu máy tính, các nhà khoa học tại Trung tâm quốc gia Ấn Độ về dịch vụ thông tin đại dương (INCOIS) đã phát minh thiết bị dự báo tình trạng biển trong 48 giờ và đưa vào sử dụng rộng rãi, giúp thủy thủ bảo đảm hoạt động an toàn tại các hải cảng của nước này.

Máy dự báo tình trạng biển được sử dụng rộng rãi tại Ấn Độ
Máy đo điều kiện biển, do INCOIS phát minh. (Ảnh: the Hindu)

INCOIS đang cung cấp dự báo điều kiện thời tiết trên biển cho 12 cảng lớn và 64/200 cảng nhỏ dọc bờ biển Ấn Độ. Dịch vụ này được triển khai hồi tháng 2/2014 và đang được 900 cơ sở tại nhiều hải cảng sử dụng.

Dịch vụ dự báo cung cấp những thông tin về điều kiện thời tiết biển trong phạm vi 50km kể từ vị trí cảng.

Ông Balakrishnan Nair, Trưởng bộ phận dịch vụ thông tin và khoa học đại dương của INCOIS, cho biết tổng lưu lượng giao thông tại các cảng lớn của Ấn Độ dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2025.

Những thông tin quan trọng về tình trạng biển như dòng nước, hướng gió, sóng biển, biển động... sẽ đóng vai trò quan trọng để quyết định cho tàu bè ra vào cảng, cho dù là tàu đánh cá nhỏ, hay tàu chở dầu lớn. Những thông số này cũng góp phần rất lớn khi đưa ra những quyết định liên quan đến các hoạt động tại cảng.

Các dự liệu thực tế từ các hệ thống giám sát bờ biển như: phao đo sóng, trạm dự báo thời tiết tự động, radar ở bờ biển, dụng cụ đo thông số từ vệ tinh cũng đang được sử dụng trong dự báo thời tiết biển và ngày càng cải thiện về chất lượng.

 
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6hm_nMXnIlB2UE3ldhDLCgjeXZ40FgcB_o__IVNxB3mKAMmZFcByuhN5QeU4fFjvoVlAR-b_jYToveJ9Y8GmWTRj-aZy-I_VjXuNXGU437rSv3n8iy3GiPPimViDlJaz-WlHvcc3MuQw/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjdjR7ttxckrF7PtMCglr6guWNgIm565usMGMu071NsYdesoswT2EJENb5QARTcdhb95Twr0lP9hFfYBN2bOueKQXl4Ce2sIg-4xeYLUTiFRG3rxs8DcXSjL_oVDj-aQq6PCS2Ui1lvSqI/
Phát minh
8:27 PM|

Dựa trên mô hình của siêu máy tính, các nhà khoa học tại Trung tâm quốc gia Ấn Độ về dịch vụ thông tin đại dương (INCOIS) đã phát minh thiết bị dự báo tình trạng biển trong 48 giờ và đưa vào sử dụng rộng rãi, giúp thủy thủ bảo đảm hoạt động an toàn tại các hải cảng của nước này.

Máy dự báo tình trạng biển được sử dụng rộng rãi tại Ấn Độ
Máy đo điều kiện biển, do INCOIS phát minh. (Ảnh: the Hindu)

INCOIS đang cung cấp dự báo điều kiện thời tiết trên biển cho 12 cảng lớn và 64/200 cảng nhỏ dọc bờ biển Ấn Độ. Dịch vụ này được triển khai hồi tháng 2/2014 và đang được 900 cơ sở tại nhiều hải cảng sử dụng.

Dịch vụ dự báo cung cấp những thông tin về điều kiện thời tiết biển trong phạm vi 50km kể từ vị trí cảng.

Ông Balakrishnan Nair, Trưởng bộ phận dịch vụ thông tin và khoa học đại dương của INCOIS, cho biết tổng lưu lượng giao thông tại các cảng lớn của Ấn Độ dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2025.

Những thông tin quan trọng về tình trạng biển như dòng nước, hướng gió, sóng biển, biển động... sẽ đóng vai trò quan trọng để quyết định cho tàu bè ra vào cảng, cho dù là tàu đánh cá nhỏ, hay tàu chở dầu lớn. Những thông số này cũng góp phần rất lớn khi đưa ra những quyết định liên quan đến các hoạt động tại cảng.

Các dự liệu thực tế từ các hệ thống giám sát bờ biển như: phao đo sóng, trạm dự báo thời tiết tự động, radar ở bờ biển, dụng cụ đo thông số từ vệ tinh cũng đang được sử dụng trong dự báo thời tiết biển và ngày càng cải thiện về chất lượng.

 
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6hm_nMXnIlB2UE3ldhDLCgjeXZ40FgcB_o__IVNxB3mKAMmZFcByuhN5QeU4fFjvoVlAR-b_jYToveJ9Y8GmWTRj-aZy-I_VjXuNXGU437rSv3n8iy3GiPPimViDlJaz-WlHvcc3MuQw/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjdjR7ttxckrF7PtMCglr6guWNgIm565usMGMu071NsYdesoswT2EJENb5QARTcdhb95Twr0lP9hFfYBN2bOueKQXl4Ce2sIg-4xeYLUTiFRG3rxs8DcXSjL_oVDj-aQq6PCS2Ui1lvSqI/

Một viện nghiên cứu ở thành phố Nagoya, miền Trung Nhật Bản, đã phát triển thành công kháng thể chống lại virus gây bệnh sốt xuất huyết trong bối cảnh dịch bệnh đang diễn biến phức tạp với ít nhất 72 người mắc bệnh rải rắc trên 14 tỉnh, thành của nước này.
Nhật Bản phát triển thành công kháng thể chống sốt xuất huyết
Ảnh: nationalgeographic.com

Viện Nghiên cứu Y sinh vật học có trụ sở ở Nagoya đã phát triển thành công kháng thể này sau khi triển khai một dự án nghiên cứu chung với Thái Lan từ năm 2009.
Năm 2013, dự án đã đạt được kết quả nghiên cứu thành công.
Bản luận văn nghiên cứu của Viện này đã được công bố nhưng cho đến nay, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học ở Nagoya không nhận được nhiều mối quan tâm ở Nhật Bản nên Viện này vẫn chưa thể tiến hành các thí nghiệm lâm sàng để triển khai ứng dụng thực tế.
Quan chức Viện Nghiên cứu cho biết do việc ứng dụng thực tế cần rất nhiều tiền đầu tư nên Viện vẫn đang chủ trương tìm cách liên kết với các công ty dược phẩm ở cả trong và ngoài nước để phát triển thuốc điều trị sốt xuất huyết.
Theo vị quan chức trên, việc này sẽ phải mất nhiều năm.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgyfuDz_2tkUQULJyj33A4uTmDqKRSMNy5dL__iJnnD05Mt8QpGWBSwIUZJe5FitwjgyND4qy_pu3NDxUyd2TnTlB_4PYw8RD2f9W_7cj6tAgPFEbCyh-msrcoHaZevB7GseEtm26JL1O4/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgTtosooh8Dz7VBVbKtaMw_xBwXjVLYg3VL_5CevFOH20QZGoC2irNtPWeWgM5ng8N6T8TzTwQKqqZIXwL_xkRPHCH_A1oDEjaK3YzpGg9VNzaBa80rLgMHvmGGYh8zd_gGPKjZHveFhdw/
Phát minh
3:52 PM|

Một viện nghiên cứu ở thành phố Nagoya, miền Trung Nhật Bản, đã phát triển thành công kháng thể chống lại virus gây bệnh sốt xuất huyết trong bối cảnh dịch bệnh đang diễn biến phức tạp với ít nhất 72 người mắc bệnh rải rắc trên 14 tỉnh, thành của nước này.
Nhật Bản phát triển thành công kháng thể chống sốt xuất huyết
Ảnh: nationalgeographic.com

Viện Nghiên cứu Y sinh vật học có trụ sở ở Nagoya đã phát triển thành công kháng thể này sau khi triển khai một dự án nghiên cứu chung với Thái Lan từ năm 2009.
Năm 2013, dự án đã đạt được kết quả nghiên cứu thành công.
Bản luận văn nghiên cứu của Viện này đã được công bố nhưng cho đến nay, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học ở Nagoya không nhận được nhiều mối quan tâm ở Nhật Bản nên Viện này vẫn chưa thể tiến hành các thí nghiệm lâm sàng để triển khai ứng dụng thực tế.
Quan chức Viện Nghiên cứu cho biết do việc ứng dụng thực tế cần rất nhiều tiền đầu tư nên Viện vẫn đang chủ trương tìm cách liên kết với các công ty dược phẩm ở cả trong và ngoài nước để phát triển thuốc điều trị sốt xuất huyết.
Theo vị quan chức trên, việc này sẽ phải mất nhiều năm.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgyfuDz_2tkUQULJyj33A4uTmDqKRSMNy5dL__iJnnD05Mt8QpGWBSwIUZJe5FitwjgyND4qy_pu3NDxUyd2TnTlB_4PYw8RD2f9W_7cj6tAgPFEbCyh-msrcoHaZevB7GseEtm26JL1O4/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgTtosooh8Dz7VBVbKtaMw_xBwXjVLYg3VL_5CevFOH20QZGoC2irNtPWeWgM5ng8N6T8TzTwQKqqZIXwL_xkRPHCH_A1oDEjaK3YzpGg9VNzaBa80rLgMHvmGGYh8zd_gGPKjZHveFhdw/
Mặc dù y học vẫn chưa tìm ra cách chữa trị bệnh Ebola, nhưng các chuyên gia tin rằng một liệu pháp điều trị dị thường, sử dụng máu của những bệnh nhân sống sót có thể giúp chống lại căn bệnh quái ác này.
Những hình ảnh gây sốc về cảnh các nhân viên y tế hàng ngày đi thu lượm xác người tử vong vì virus Ebola bị vứt bỏ trên các đường phố Tây Phi cho thấy, dịch bùng phát vẫn đang diễn tiến ngoài tầm kiểm soát. Theo số liệu thống kê mới nhất, hơn 1.900 người đã thiệt mạng kể từ khi dịch Ebola bùng phát ở Tây Phi hồi tháng 3 năm nay.
Hơn 200 chuyên gia, theo lời mời của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đã nhóm họp khẩn cấp tại Geneva, Thụy Sỹ trong 2 ngày để bàn cách chống Ebola. Các đại biểu đã xem xét những vấn đề về tính an toàn, hiệu quả cũng như phương pháp chữa trị nào nên được ưu tiên thử nghiệm trước trong đợt dịch Ebola nghiêm trọng nhất lịch sử hiện nay.
Trên thế giới hiện có khoảng 5 – 6 loại thuốc và vắc-xin phòng và điều trị virus Ebola đang được phát triển. Chưa có dược phẩm nào trong số này được chứng thực tác dụng ở người, nhưng Mỹ đã cho xúc tiến sớm thử nghiệm một loại vắc-xin triển vọng trong tuần này.
Phần lớn sự quan tâm chú ý đang dành cho
ZMapp, một loại thuốc chưa qua kiểm nghiệm nhưng được WHO cho phép dùng điều trị thử với 7 bệnh nhân nhiễm virus Ebola. 2 trong số các bệnh nhân này đã tử vong. Hãng sản xuất Zmapp tiết lộ, nguồn cung loại thuốc thử nghiệm này hiện đã cạn kiệt và họ thậm chí phải mất nhiều tháng nữa mới sản xuất được một lượng nhỏ thuốc mới.
Ngược lại, hệ thống quản lý máu của WHO, một tổ chức quốc tế của các chuyên gia điều phối máu trên khắp toàn cầu, mới đây đã lên tiếng lưu ý rằng, có hàng ngàn người sống sót qua các đợt dịch Ebola trước đây ở châu Phi có thể cung cấp nguồn vũ khí chống lại căn bệnh nguy hiểm.
Bệnh Ebola có thể chữa bằng máu của nạn nhân sống sót?
Các chuyên gia y tế đang di dời thi thể một người đàn ông chết vì nhiễm virus Ebola trước sự chứng kiến của đám đông tại thủ đô Monrovia của Liberia. (Ảnh: AP)

Tổ chức của WHO tuyên bố, máu của những người sống sót nên được coi là mang tính thử nghiệm và khuyến nghị các nghiên cứu nên được tiến hành trong lúc bùng phát dịch.
Trong một tài liệu khác vừa công bố tuần này, WHO ước tính, các lô máu đầu tiên do nạn nhân sống sót hiến tặng, có thể sẵn sàng để dùng vào cuối năm nay. WHO nói đã nhận diện nhiều bệnh nhân Ebola hồi phục như những người hiến tặng máu tiềm năng, nhưng cũng thừa nhận “việc cung ứng số máu thu thập được cũng là một vấn đề”.
Một số nhà khoa học cho rằng, các kháng thể trong máu của những người sống sót có thể hữu ích cho các bệnh nhân khác nhiễm Ebola. Điều đó là vì, các kháng thể do hệ miễn dịch của cơ thể người sản sinh ra để chống lại những thứ độc hại xâm nhập, chẳng hạn như virus Ebola, vẫn tồn tại trong máu, luôn sẵn sàng đối phó với bất kỳ việc nhiễm trùng nào trong tương lai, do cùng một mầm bệnh gây ra.
Theo các chuyên gia, máu của những người sống sót có thể được xử lý dùng cho nhiều bệnh nhân hoặc một người sống sót có thể hiến tặng máu cho một bệnh nhân nhất định. Cả 2 cách này đều đòi hỏi việc soi kiểm máu xem có nhiễm các bệnh như HIV hay sốt rét hay không.
Tiến sĩ Peter Piot, giám đốc Trường vệ sinh và thuốc nhiệt đới ở London, Anh và là người đồng khám phá ra virus Ebola, nhận định: “Đây là một việc tương đối đơn giản để thực hiện. Chúng ta cần phải tìm hiểu xem liệu pháp chữa trị bằng máu bệnh nhân Ebola sống sót có hiệu quả không… Tôi hy vọng đây là đợt dịch Ebola bùng phát cuối cùng mà tất cả chúng ta phải cách ly, kiểm dịch và chăm sóc hỗ trợ để điều trị cho bệnh nhân”.
Mặc dù việc hiến tặng trực tiếp sẽ dễ dàng hơn, nhưng mức độ kháng thể chống virus Ebola do một người sống sót sản sinh ra trong máu, có thể thay đổi. Các chuyên gia nhận định, lý tưởng nhất là chúng ta có thể đo được lượng kháng thể đó.
Ở Tây Phi hiện không có bất kỳ nỗ lực chính thức nào nhằm dùng máu của nạn nhân Ebola sống sót để điều trị cho các bệnh nhân khác. Hồi tháng 7 vừa qua, máu của một cậu bé 14 tuổi sống sót đã được dùng thử nghiệm cho bác sĩ Mỹ Kent Brantly, người nhiễm bệnh ở Liberia. Ông Brantly cũng được cho dùng thuốc thử nghiệm Zmapp và khỏi bệnh, ra viện ở Atlanta, Mỹ cuối tháng trước. Hiện vẫn chưa rõ thuốc Zmapp hay máu của cậu bé sống sót đã hỗ trợ việc hồi phục của ông.
Y học từng ghi nhận nhiều trường hợp dùng máu của người sống sót để chữa bệnh trước đây, khi các bác sĩ đã hết mọi giải pháp lựa chọn. Cách làm này dường như hiệu quả nhất đối với các bệnh có độc tố, chẳng hạn như bệnh than và bệnh uốn ván.
Đối với việc điều trị bệnh Ebola, theo tiến sĩ Michael Kurilla, giám đốc phụ trách mảng phòng vệ sinh học tại Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ, chúng ta cần biết lượng máu truyền cho bệnh nhân là bao nhiêu, trong bao lâu và tốc độ truyền an toàn như thế nào. “Nếu biết được hiệu lực của huyết thanh, về lý thuyết, chúng ta có thể giúp cơ thể loại bỏ virus Ebola ra khỏi các tế bào trước khi nó có thể gây tổn hại quá lớn”, ông Kurilla quả quyết.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiMiyczSEvqxmNV74D09LpBw-vwQLhAtNfeMOHQKVBOvE4Xg07XJNW8L8xjo5sI13bvsehbXFe5smbCV12qOx3l86pEOSXAxzFpfYakbFMQOk5aDbKGbbnHN7olIF1Zos8VKy_BGUP7pWU/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhP8PCNRtA9AwXUnZD3TarESKcDMBI8QUCCGGzWMjcFSLpoGff9w65tu6bCNNsR_3CZSWj5Sd35Wq-vLRslt-EEfFTb-2bhJDg_adA96Pc3rk3XBakvoPXF-jfl_Drgk9KchO4N8rTxGAU/
Sức khỏe
3:51 PM|
Mặc dù y học vẫn chưa tìm ra cách chữa trị bệnh Ebola, nhưng các chuyên gia tin rằng một liệu pháp điều trị dị thường, sử dụng máu của những bệnh nhân sống sót có thể giúp chống lại căn bệnh quái ác này.
Những hình ảnh gây sốc về cảnh các nhân viên y tế hàng ngày đi thu lượm xác người tử vong vì virus Ebola bị vứt bỏ trên các đường phố Tây Phi cho thấy, dịch bùng phát vẫn đang diễn tiến ngoài tầm kiểm soát. Theo số liệu thống kê mới nhất, hơn 1.900 người đã thiệt mạng kể từ khi dịch Ebola bùng phát ở Tây Phi hồi tháng 3 năm nay.
Hơn 200 chuyên gia, theo lời mời của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đã nhóm họp khẩn cấp tại Geneva, Thụy Sỹ trong 2 ngày để bàn cách chống Ebola. Các đại biểu đã xem xét những vấn đề về tính an toàn, hiệu quả cũng như phương pháp chữa trị nào nên được ưu tiên thử nghiệm trước trong đợt dịch Ebola nghiêm trọng nhất lịch sử hiện nay.
Trên thế giới hiện có khoảng 5 – 6 loại thuốc và vắc-xin phòng và điều trị virus Ebola đang được phát triển. Chưa có dược phẩm nào trong số này được chứng thực tác dụng ở người, nhưng Mỹ đã cho xúc tiến sớm thử nghiệm một loại vắc-xin triển vọng trong tuần này.
Phần lớn sự quan tâm chú ý đang dành cho ZMapp, một loại thuốc chưa qua kiểm nghiệm nhưng được WHO cho phép dùng điều trị thử với 7 bệnh nhân nhiễm virus Ebola. 2 trong số các bệnh nhân này đã tử vong. Hãng sản xuất Zmapp tiết lộ, nguồn cung loại thuốc thử nghiệm này hiện đã cạn kiệt và họ thậm chí phải mất nhiều tháng nữa mới sản xuất được một lượng nhỏ thuốc mới.
Ngược lại, hệ thống quản lý máu của WHO, một tổ chức quốc tế của các chuyên gia điều phối máu trên khắp toàn cầu, mới đây đã lên tiếng lưu ý rằng, có hàng ngàn người sống sót qua các đợt dịch Ebola trước đây ở châu Phi có thể cung cấp nguồn vũ khí chống lại căn bệnh nguy hiểm.
Bệnh Ebola có thể chữa bằng máu của nạn nhân sống sót?
Các chuyên gia y tế đang di dời thi thể một người đàn ông chết vì nhiễm virus Ebola trước sự chứng kiến của đám đông tại thủ đô Monrovia của Liberia. (Ảnh: AP)

Tổ chức của WHO tuyên bố, máu của những người sống sót nên được coi là mang tính thử nghiệm và khuyến nghị các nghiên cứu nên được tiến hành trong lúc bùng phát dịch.
Trong một tài liệu khác vừa công bố tuần này, WHO ước tính, các lô máu đầu tiên do nạn nhân sống sót hiến tặng, có thể sẵn sàng để dùng vào cuối năm nay. WHO nói đã nhận diện nhiều bệnh nhân Ebola hồi phục như những người hiến tặng máu tiềm năng, nhưng cũng thừa nhận “việc cung ứng số máu thu thập được cũng là một vấn đề”.
Một số nhà khoa học cho rằng, các kháng thể trong máu của những người sống sót có thể hữu ích cho các bệnh nhân khác nhiễm Ebola. Điều đó là vì, các kháng thể do hệ miễn dịch của cơ thể người sản sinh ra để chống lại những thứ độc hại xâm nhập, chẳng hạn như virus Ebola, vẫn tồn tại trong máu, luôn sẵn sàng đối phó với bất kỳ việc nhiễm trùng nào trong tương lai, do cùng một mầm bệnh gây ra.
Theo các chuyên gia, máu của những người sống sót có thể được xử lý dùng cho nhiều bệnh nhân hoặc một người sống sót có thể hiến tặng máu cho một bệnh nhân nhất định. Cả 2 cách này đều đòi hỏi việc soi kiểm máu xem có nhiễm các bệnh như HIV hay sốt rét hay không.
Tiến sĩ Peter Piot, giám đốc Trường vệ sinh và thuốc nhiệt đới ở London, Anh và là người đồng khám phá ra virus Ebola, nhận định: “Đây là một việc tương đối đơn giản để thực hiện. Chúng ta cần phải tìm hiểu xem liệu pháp chữa trị bằng máu bệnh nhân Ebola sống sót có hiệu quả không… Tôi hy vọng đây là đợt dịch Ebola bùng phát cuối cùng mà tất cả chúng ta phải cách ly, kiểm dịch và chăm sóc hỗ trợ để điều trị cho bệnh nhân”.
Mặc dù việc hiến tặng trực tiếp sẽ dễ dàng hơn, nhưng mức độ kháng thể chống virus Ebola do một người sống sót sản sinh ra trong máu, có thể thay đổi. Các chuyên gia nhận định, lý tưởng nhất là chúng ta có thể đo được lượng kháng thể đó.
Ở Tây Phi hiện không có bất kỳ nỗ lực chính thức nào nhằm dùng máu của nạn nhân Ebola sống sót để điều trị cho các bệnh nhân khác. Hồi tháng 7 vừa qua, máu của một cậu bé 14 tuổi sống sót đã được dùng thử nghiệm cho bác sĩ Mỹ Kent Brantly, người nhiễm bệnh ở Liberia. Ông Brantly cũng được cho dùng thuốc thử nghiệm Zmapp và khỏi bệnh, ra viện ở Atlanta, Mỹ cuối tháng trước. Hiện vẫn chưa rõ thuốc Zmapp hay máu của cậu bé sống sót đã hỗ trợ việc hồi phục của ông.
Y học từng ghi nhận nhiều trường hợp dùng máu của người sống sót để chữa bệnh trước đây, khi các bác sĩ đã hết mọi giải pháp lựa chọn. Cách làm này dường như hiệu quả nhất đối với các bệnh có độc tố, chẳng hạn như bệnh than và bệnh uốn ván.
Đối với việc điều trị bệnh Ebola, theo tiến sĩ Michael Kurilla, giám đốc phụ trách mảng phòng vệ sinh học tại Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ, chúng ta cần biết lượng máu truyền cho bệnh nhân là bao nhiêu, trong bao lâu và tốc độ truyền an toàn như thế nào. “Nếu biết được hiệu lực của huyết thanh, về lý thuyết, chúng ta có thể giúp cơ thể loại bỏ virus Ebola ra khỏi các tế bào trước khi nó có thể gây tổn hại quá lớn”, ông Kurilla quả quyết.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiMiyczSEvqxmNV74D09LpBw-vwQLhAtNfeMOHQKVBOvE4Xg07XJNW8L8xjo5sI13bvsehbXFe5smbCV12qOx3l86pEOSXAxzFpfYakbFMQOk5aDbKGbbnHN7olIF1Zos8VKy_BGUP7pWU/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhP8PCNRtA9AwXUnZD3TarESKcDMBI8QUCCGGzWMjcFSLpoGff9w65tu6bCNNsR_3CZSWj5Sd35Wq-vLRslt-EEfFTb-2bhJDg_adA96Pc3rk3XBakvoPXF-jfl_Drgk9KchO4N8rTxGAU/
Nhiều bệnh nhân đang bị mắc kẹt trong tình trạng sống thực vật, vật vờ giữa ranh giới sống chết và giới khoa học đang nỗ lực giải phóng đầu óc của họ.
Kể từ khi những trường hợp hôn mê sâu đầu tiên xuất hiện vào thập niên 1950, đến nay số ca dạng này tiếp tục tăng lên trên toàn thế giới. Hiện nay, chỉ tính riêng tại châu Âu mỗi năm lại xuất hiện khoảng 230.000 trường hợp, và trong số này ước tính sẽ có khoảng 30.000 ca lâm vào tình trạng sống thực vật kéo dài. Theo BBC dẫn lời chuyên gia Adrian Owen của Đại học miền Tây Ontario (Canada), những người bị liệt vào nhóm sống thực vật luôn trong tình trạng vô thức. Mắt của họ có thể mở và đôi khi còn đảo qua lại. Họ có thể cười, khóc, rên rỉ hoặc càu nhàu, nhưng không thể nhìn hoặc hiểu được lời nói. Các bệnh nhân này cử động không theo mục đích mà chỉ đơn thuần là hành động phản xạ. Họ dường như mất đi ký ức, cảm xúc, mục đích, những đặc điểm giúp mỗi người trong chúng ta độc nhất vô nhị. Tâm trí của họ bị đóng kín, nhưng mí mắt có thể chớp động, khiến người xung quanh cứ tự hỏi liệu người nằm đó có còn lại chút ý thức nào không.
Đọc tâm trí người chết
Giới khoa học đang nỗ lực xuyên thủng bức màn tối tăm đang bao phủ đầu óc của người sống thực vật - (Ảnh: Science Photo)

Cách đây 1 thập niên, câu trả lời sẽ vô cùng lạnh lùng: không. Tuy nhiên, sau thời gian dài nghiên cứu, hiện có đến 3 chuyên gia ở châu Mỹ và châu Âu cho rằng, một số bệnh nhân trong trạng thái thực vật vẫn có thể suy nghĩ và cảm giác được theo mức độ nhất định. Ngoài Owen, chuyên gia Steven Laureys của Đại học Liege (Bỉ) và Nicholas Schiff của Đại học Cornell (Mỹ) đang theo đuổi các cuộc nghiên cứu về người thực vật, nhất là sau khi có trường hợp bệnh nhân bừng tỉnh sau thời gian dài hôn mê sâu. Nổi bật nhất là Kate Bainbridge, giáo viên 26 tuổi, bị nhiễm vi rút vào năm 1997 khiến não bộ và cuống não bị viêm nhiễm, đẩy bệnh nhân vào tình trạng hôn mê sâu. Vài tuần sau, Kate tỉnh lại, nhưng chuyển sang tình trạng sống thực vật. Bốn tháng kể từ nhận được chẩn đoán mới, cô trở thành bệnh nhân đầu tiên của nhóm chuyên gia Cambridge và được tiến hành chụp cắt lớp phát xạ (PET). Đến năm 1998, kết quả được công bố hết sức khả quan, cho thấy não bộ của Kate phản ứng không khác gì những người khỏe mạnh. Và sau 12 năm sống lại, Kate bắt đầu có thể nói được vài từ đơn giản, giao tiếp thông qua chữ viết, dù phải trải qua quãng đời còn lại trên xe lăn, theo báo cáo trên chuyên san Nature.
Kate hy vọng trường hợp của mình có thể hỗ trợ công cuộc nghiên cứu tình trạng của người sống thực vật. Trong bức thư gửi chuyên gia Owen, bà viết: “Làm ơn sử dụng trường hợp của tôi để cho mọi người thấy tầm quan trọng của phương pháp quét não… Tôi từng nằm bất động không phản ứng và trông hết sức vô vọng, nhưng ảnh chụp não cho thấy tôi vẫn ở đó”. Điều mà cả 3 chuyên gia đang nỗ lực chứng minh là buộc thế giới phải có cái nhìn khác đối với một số bệnh nhân bị liệt vào tình trạng sống thực vật. Một vài người thậm chí có thể được xếp vào nhóm “hoàn toàn có ý thức” nhưng mắc hội chứng “nhốt trong”, tức cơ thể hoàn toàn bất động. Vào năm 2003, chuyên gia Owen và Laureys đã tìm được cách trao đổi với những bệnh nhân sống thực vật, bao gồm Gillian (đã đổi tên). Bằng cách sử dụng máy chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI), chuyên gia Owen đã đọc được suy nghĩ của Gillian, theo báo cáo trên chuyên san Science. Cuộc thử nghiệm trên 54 bệnh nhân sống thực vật được công bố vào năm 2010 tiếp tục chứng thực rằng không phải người thực vật nào cũng mất ý thức.
Trong thời gian tới, các chuyên gia tiếp tục tập trung vào các phương pháp như PET và fMRI để đọc não người thực vật, với hy vọng một ngày nào đó có thể mang họ trở lại cuộc sống.
Theo khoahoc.com.vn
Phát minh
3:03 PM|
Nhiều bệnh nhân đang bị mắc kẹt trong tình trạng sống thực vật, vật vờ giữa ranh giới sống chết và giới khoa học đang nỗ lực giải phóng đầu óc của họ.
Kể từ khi những trường hợp hôn mê sâu đầu tiên xuất hiện vào thập niên 1950, đến nay số ca dạng này tiếp tục tăng lên trên toàn thế giới. Hiện nay, chỉ tính riêng tại châu Âu mỗi năm lại xuất hiện khoảng 230.000 trường hợp, và trong số này ước tính sẽ có khoảng 30.000 ca lâm vào tình trạng sống thực vật kéo dài. Theo BBC dẫn lời chuyên gia Adrian Owen của Đại học miền Tây Ontario (Canada), những người bị liệt vào nhóm sống thực vật luôn trong tình trạng vô thức. Mắt của họ có thể mở và đôi khi còn đảo qua lại. Họ có thể cười, khóc, rên rỉ hoặc càu nhàu, nhưng không thể nhìn hoặc hiểu được lời nói. Các bệnh nhân này cử động không theo mục đích mà chỉ đơn thuần là hành động phản xạ. Họ dường như mất đi ký ức, cảm xúc, mục đích, những đặc điểm giúp mỗi người trong chúng ta độc nhất vô nhị. Tâm trí của họ bị đóng kín, nhưng mí mắt có thể chớp động, khiến người xung quanh cứ tự hỏi liệu người nằm đó có còn lại chút ý thức nào không.
Đọc tâm trí người chết
Giới khoa học đang nỗ lực xuyên thủng bức màn tối tăm đang bao phủ đầu óc của người sống thực vật - (Ảnh: Science Photo)

Cách đây 1 thập niên, câu trả lời sẽ vô cùng lạnh lùng: không. Tuy nhiên, sau thời gian dài nghiên cứu, hiện có đến 3 chuyên gia ở châu Mỹ và châu Âu cho rằng, một số bệnh nhân trong trạng thái thực vật vẫn có thể suy nghĩ và cảm giác được theo mức độ nhất định. Ngoài Owen, chuyên gia Steven Laureys của Đại học Liege (Bỉ) và Nicholas Schiff của Đại học Cornell (Mỹ) đang theo đuổi các cuộc nghiên cứu về người thực vật, nhất là sau khi có trường hợp bệnh nhân bừng tỉnh sau thời gian dài hôn mê sâu. Nổi bật nhất là Kate Bainbridge, giáo viên 26 tuổi, bị nhiễm vi rút vào năm 1997 khiến não bộ và cuống não bị viêm nhiễm, đẩy bệnh nhân vào tình trạng hôn mê sâu. Vài tuần sau, Kate tỉnh lại, nhưng chuyển sang tình trạng sống thực vật. Bốn tháng kể từ nhận được chẩn đoán mới, cô trở thành bệnh nhân đầu tiên của nhóm chuyên gia Cambridge và được tiến hành chụp cắt lớp phát xạ (PET). Đến năm 1998, kết quả được công bố hết sức khả quan, cho thấy não bộ của Kate phản ứng không khác gì những người khỏe mạnh. Và sau 12 năm sống lại, Kate bắt đầu có thể nói được vài từ đơn giản, giao tiếp thông qua chữ viết, dù phải trải qua quãng đời còn lại trên xe lăn, theo báo cáo trên chuyên san Nature.
Kate hy vọng trường hợp của mình có thể hỗ trợ công cuộc nghiên cứu tình trạng của người sống thực vật. Trong bức thư gửi chuyên gia Owen, bà viết: “Làm ơn sử dụng trường hợp của tôi để cho mọi người thấy tầm quan trọng của phương pháp quét não… Tôi từng nằm bất động không phản ứng và trông hết sức vô vọng, nhưng ảnh chụp não cho thấy tôi vẫn ở đó”. Điều mà cả 3 chuyên gia đang nỗ lực chứng minh là buộc thế giới phải có cái nhìn khác đối với một số bệnh nhân bị liệt vào tình trạng sống thực vật. Một vài người thậm chí có thể được xếp vào nhóm “hoàn toàn có ý thức” nhưng mắc hội chứng “nhốt trong”, tức cơ thể hoàn toàn bất động. Vào năm 2003, chuyên gia Owen và Laureys đã tìm được cách trao đổi với những bệnh nhân sống thực vật, bao gồm Gillian (đã đổi tên). Bằng cách sử dụng máy chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI), chuyên gia Owen đã đọc được suy nghĩ của Gillian, theo báo cáo trên chuyên san Science. Cuộc thử nghiệm trên 54 bệnh nhân sống thực vật được công bố vào năm 2010 tiếp tục chứng thực rằng không phải người thực vật nào cũng mất ý thức.
Trong thời gian tới, các chuyên gia tiếp tục tập trung vào các phương pháp như PET và fMRI để đọc não người thực vật, với hy vọng một ngày nào đó có thể mang họ trở lại cuộc sống.
Theo khoahoc.com.vn
Các nhà nghiên cứu đã tìm ra cách lưu trữ dữ liệu trong chất lỏng, mở ra triển vọng về sự ra đời của một dạng cấy ghép vào não mới, đóng vai trò như "kho dữ liệu Google" bên trong cơ thể, giúp con người trở nên thông minh hơn.
Các nhà khoa học Mỹ tuyên bố đã khám phá ra kỹ thuật cô đọng các bức ảnh, video và những tài liệu khác vào các hạt tí hon lơn lửng trong nước. Công nghệ có tên gọi "tin học ướt" này một ngày nào đó có thể được ứng dụng vào bộ não, cho phép con người tính toán nhanh hơn và gợi lại được nhiều thông tin hơn.
Theo tạp chí Soft Matter, các chuyên gia thuộc Đại học Michigan (Mỹ) đã lưu trữ thành công thông tin trong "các bó chất keo", những hạt tí hon biến đổi trạng thái khi được đặt vào chất lỏng. Sự thay đổi trạng thái ở những hạt này có thể được dùng để mã hóa cùng các chuỗi 0 và 1, vốn đang được lưu trữ trong công nghệ phần cứng ở dạng rắn hiện nay.
Cấy chất lỏng vào não người để thông minh hơn
Các nhà nghiên cứu nhận định, một thìa chất lỏng chứa các hạt nano như trên có thể lưu trữ tới 1 terabyte dữ liệu, tức là tương đương với hơn 2.000 giờ ghi âm.
Giáo sư Sharon Glotzer, một kỹ sư hóa học và là thành viên nhóm nghiên cứu, mô tả sự gắn kết của các hạt nano giống như một dạng khối rubic xoay quanh một lõi trung tâm. Một cụm bộ nhớ gồm 12 hạt liên kết với một khối cầu trung tâm có thể tạo ra tới gần 8 triệu trạng thái riêng biệt, tương đương với 2,86 byte dữ liệu, tức là đủ để mã hóa 3 ký tự dạng chữ.
Nếu các nhà khoa học có thể đếm tất cả các dạng khác biệt đó và hiểu cách thức chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, khi đó họ có thể mã hóa thông tin, giáo sư Glotzer giải thích.
Trong các thử nghiệm, ông Glotzer và các cộng sự đã tạo ra một cụm bộ nhớ gồm 4 hạt trên khối cầu trung tâm. Bằng cách đun nóng chất lỏng, khối cầu gia tăng kích cỡ và các hạt tự tái sắp xếp chúng theo những cách nhất định.
Để việc lưu trữ thông tin trong chất lỏng trở thành ứng dụng khả thi, nhóm nghiên cứu cần tìm ra cách khóa nhốt các cụm bộ nhớ vào những hình dạng chuẩn xác ở thể tích chất lỏng lớn hơn. Và để tăng cường sức mạnh của bộ não, việc ứng dụng ngay lập tức công nghệ này có thể tạo ra những cảm biến thích ứng sinh học, chẳng hạn như giám sát lượng đường huyết ở những bệnh nhân tiểu đường.
Theo khoahoc.com.vn
Phát minh
2:30 PM|
Các nhà nghiên cứu đã tìm ra cách lưu trữ dữ liệu trong chất lỏng, mở ra triển vọng về sự ra đời của một dạng cấy ghép vào não mới, đóng vai trò như "kho dữ liệu Google" bên trong cơ thể, giúp con người trở nên thông minh hơn.
Các nhà khoa học Mỹ tuyên bố đã khám phá ra kỹ thuật cô đọng các bức ảnh, video và những tài liệu khác vào các hạt tí hon lơn lửng trong nước. Công nghệ có tên gọi "tin học ướt" này một ngày nào đó có thể được ứng dụng vào bộ não, cho phép con người tính toán nhanh hơn và gợi lại được nhiều thông tin hơn.
Theo tạp chí Soft Matter, các chuyên gia thuộc Đại học Michigan (Mỹ) đã lưu trữ thành công thông tin trong "các bó chất keo", những hạt tí hon biến đổi trạng thái khi được đặt vào chất lỏng. Sự thay đổi trạng thái ở những hạt này có thể được dùng để mã hóa cùng các chuỗi 0 và 1, vốn đang được lưu trữ trong công nghệ phần cứng ở dạng rắn hiện nay.
Cấy chất lỏng vào não người để thông minh hơn
Các nhà nghiên cứu nhận định, một thìa chất lỏng chứa các hạt nano như trên có thể lưu trữ tới 1 terabyte dữ liệu, tức là tương đương với hơn 2.000 giờ ghi âm.
Giáo sư Sharon Glotzer, một kỹ sư hóa học và là thành viên nhóm nghiên cứu, mô tả sự gắn kết của các hạt nano giống như một dạng khối rubic xoay quanh một lõi trung tâm. Một cụm bộ nhớ gồm 12 hạt liên kết với một khối cầu trung tâm có thể tạo ra tới gần 8 triệu trạng thái riêng biệt, tương đương với 2,86 byte dữ liệu, tức là đủ để mã hóa 3 ký tự dạng chữ.
Nếu các nhà khoa học có thể đếm tất cả các dạng khác biệt đó và hiểu cách thức chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, khi đó họ có thể mã hóa thông tin, giáo sư Glotzer giải thích.
Trong các thử nghiệm, ông Glotzer và các cộng sự đã tạo ra một cụm bộ nhớ gồm 4 hạt trên khối cầu trung tâm. Bằng cách đun nóng chất lỏng, khối cầu gia tăng kích cỡ và các hạt tự tái sắp xếp chúng theo những cách nhất định.
Để việc lưu trữ thông tin trong chất lỏng trở thành ứng dụng khả thi, nhóm nghiên cứu cần tìm ra cách khóa nhốt các cụm bộ nhớ vào những hình dạng chuẩn xác ở thể tích chất lỏng lớn hơn. Và để tăng cường sức mạnh của bộ não, việc ứng dụng ngay lập tức công nghệ này có thể tạo ra những cảm biến thích ứng sinh học, chẳng hạn như giám sát lượng đường huyết ở những bệnh nhân tiểu đường.
Theo khoahoc.com.vn
Một sinh viên của Anh mới đây giới thiệu chiếc lá nhân tạo có chức năng như lá thật trong tự nhiên, có thể hấp thụ nước, ánh sáng và quang hợp để tạo ra khí oxy.
silk-leaf-project-si.jpg
Chiếc lá nhân tạo có chức năng như lá thật trong tự nhiên. Ảnh: Royal College of Art
Chiếc lá nhân tạo của Julian Melchiorri được thiết kế theo dự án Silk Leaf. Nó có màu xanh sáng hơn so với lá cây thật, nhưng mang đặc điểm tương tự là chức năng quang hợp để tạo ra khí oxy, bằng cách hấp thụ ánh sáng, nước và carbon dioxide.
Lá nhân tạo có lục lạp được chiết xuất từ nhiên liệu protein trong sợi tơ. Do đó, khi được tiếp xúc với ánh sáng và nước, quá trình quang hợp và sinh oxy sẽ diễn ra bình thường. Với khả năng quang hợp, lá nhân tạo có thể được ứng dụng trong thiết kế nội thất, hệ thống thông gió ở các tòa nhà lớn, giúp bầu không khí trong lành hơn.
Ngoài lợi ích trong đời sống thực tế, các chuyên gia cho rằng lá nhân tạo có thể phù hợp với cuộc sống của phi hành gia trên vũ trụ. Cho đến nay, giới nghiên cứu chưa thể khẳng định rằng cây có thể tồn tại và phát triển trong môi trường không trọng lực.
"Cơ quan Vũ trụ Hàng không Mỹ (NASA) đang tìm kiếm giải pháp nhằm tạo ra khí oxy cho các nhiệm vụ không gian trong thời gian dài. Loại nguyên liệu này có thể cho phép chúng ta khám phá lâu hơn so với khả năng hiện nay", RT dẫn lời Melchiorri cho hay.
Theo vnexpress.net
Quanh ta
8:26 PM|
Một sinh viên của Anh mới đây giới thiệu chiếc lá nhân tạo có chức năng như lá thật trong tự nhiên, có thể hấp thụ nước, ánh sáng và quang hợp để tạo ra khí oxy.
silk-leaf-project-si.jpg
Chiếc lá nhân tạo có chức năng như lá thật trong tự nhiên. Ảnh: Royal College of Art
Chiếc lá nhân tạo của Julian Melchiorri được thiết kế theo dự án Silk Leaf. Nó có màu xanh sáng hơn so với lá cây thật, nhưng mang đặc điểm tương tự là chức năng quang hợp để tạo ra khí oxy, bằng cách hấp thụ ánh sáng, nước và carbon dioxide.
Lá nhân tạo có lục lạp được chiết xuất từ nhiên liệu protein trong sợi tơ. Do đó, khi được tiếp xúc với ánh sáng và nước, quá trình quang hợp và sinh oxy sẽ diễn ra bình thường. Với khả năng quang hợp, lá nhân tạo có thể được ứng dụng trong thiết kế nội thất, hệ thống thông gió ở các tòa nhà lớn, giúp bầu không khí trong lành hơn.
Ngoài lợi ích trong đời sống thực tế, các chuyên gia cho rằng lá nhân tạo có thể phù hợp với cuộc sống của phi hành gia trên vũ trụ. Cho đến nay, giới nghiên cứu chưa thể khẳng định rằng cây có thể tồn tại và phát triển trong môi trường không trọng lực.
"Cơ quan Vũ trụ Hàng không Mỹ (NASA) đang tìm kiếm giải pháp nhằm tạo ra khí oxy cho các nhiệm vụ không gian trong thời gian dài. Loại nguyên liệu này có thể cho phép chúng ta khám phá lâu hơn so với khả năng hiện nay", RT dẫn lời Melchiorri cho hay.
Theo vnexpress.net

Cậu bé Alex Pring 6 tuổi sống tại Florida, Mỹ vừa trải qua cuộc phẫu thuật lắp ghép phần tay giả làm theo công nghệ in 3D, theo Reuters.
Lắp tay giả 3D cho bé 6 tuổi
Cậu bé Pring bên cạnh cánh tay giả 3D của mình - (Ảnh: Reuters)

Đây là một trong số chân tay giả được “in” ra trong năm vừa qua bằng máy in 3D nhờ sự giúp đỡ của nhóm E-nabling the Future, gồm các nhà hảo tâm khắp thế giới liên kết với nhau thông qua mạng trực tuyến.
Nhà khoa học kiêm nhà sáng lập nhóm E-nabling the Future là ông Jon Schull cho biết bộ phận giả trị giá 350 USD của Pring gây chú ý nhất vì đây là sản phẩm đầu tiên của nhóm dành cho một cậu bé không có cổ tay hay khuỷu tay để vận hành bộ phận giả.
Sau cuộc phẫu thuật lắp cánh tay và bàn tay phải giả này, lần đầu tiên kể từ khi chào đời cậu bé Pring đã có thể ôm mẹ cậu bằng cả hai tay. “Cháu có thể mở mọi thứ, trèo cây và làm các việc khác như mọi người vẫn làm” - cậu bé Pring xúc động chia sẻ.
Đại học Trung Florida đã tiến hành cuộc phẫu thuật cấy ghép cho Pring. Theo đại học này, thông thường trẻ em sẽ không được lắp ghép các bộ phận giả bởi một phần vì chúng vẫn còn phát triển và phần nữa là chi phí khá đắt - khoảng 40.000 USD cho một lần phẫu thuật.
Theo khoahoc.com.vn
Phát minh
11:54 AM|

Cậu bé Alex Pring 6 tuổi sống tại Florida, Mỹ vừa trải qua cuộc phẫu thuật lắp ghép phần tay giả làm theo công nghệ in 3D, theo Reuters.
Lắp tay giả 3D cho bé 6 tuổi
Cậu bé Pring bên cạnh cánh tay giả 3D của mình - (Ảnh: Reuters)

Đây là một trong số chân tay giả được “in” ra trong năm vừa qua bằng máy in 3D nhờ sự giúp đỡ của nhóm E-nabling the Future, gồm các nhà hảo tâm khắp thế giới liên kết với nhau thông qua mạng trực tuyến.
Nhà khoa học kiêm nhà sáng lập nhóm E-nabling the Future là ông Jon Schull cho biết bộ phận giả trị giá 350 USD của Pring gây chú ý nhất vì đây là sản phẩm đầu tiên của nhóm dành cho một cậu bé không có cổ tay hay khuỷu tay để vận hành bộ phận giả.
Sau cuộc phẫu thuật lắp cánh tay và bàn tay phải giả này, lần đầu tiên kể từ khi chào đời cậu bé Pring đã có thể ôm mẹ cậu bằng cả hai tay. “Cháu có thể mở mọi thứ, trèo cây và làm các việc khác như mọi người vẫn làm” - cậu bé Pring xúc động chia sẻ.
Đại học Trung Florida đã tiến hành cuộc phẫu thuật cấy ghép cho Pring. Theo đại học này, thông thường trẻ em sẽ không được lắp ghép các bộ phận giả bởi một phần vì chúng vẫn còn phát triển và phần nữa là chi phí khá đắt - khoảng 40.000 USD cho một lần phẫu thuật.
Theo khoahoc.com.vn

Các con chip cấy ghép vào não do Phòng Dự án Cao cấp DARPA của Bộ Quốc phòng Mỹ phát triển có thể giúp các cựu chiến binh Mỹ hồi phục chức năng ghi nhớ của bộ não sau chấn thương.

Phòng Dự án Cao cấp DARPA của Bộ Quốc phòng Mỹ đã chính thức tài trợ cho dự án chế tạo chip cấy não có tên Restoring Active Memory (RAM – Hồi phục Bộ nhớ Kích hoạt) do Đại học California và Đại học Pennsylvania phối hợp thực hiện. Mục đích của dự án này là nhằm hồi phục chức năng ghi nhớ cho các cựu chiến binh bị chấn thương não.

Mỹ phát triển chip cấy trong não người

Từ năm 2000 tới nay đã có khoảng 270.000 quân nhân Mỹ và 1,7 triệu người dân Mỹ bị chấn thương não. Những người này không thể ghi nhớ những sự kiện xảy ra trước khi bị chấn thương não. Hiện tại, chưa có biện pháp điều trị hiệu quả nào cho hội chứng này cả.

Hai trường Đại học California và Pennsylvania sẽ cùng phát triển các mô hình máy tính về cách hình thành ký ức của các tế bào thần kinh. Các nhà khoa học sẽ nghiên cứu các tín hiệu thần kinh để kiểm chứng xem liệu các quá trình giả lập có giúp tái tạo chức năng ghi nhớ của bộ não hay không.

Các con chip cấy ghép vào não do Phòng Dự án Cao cấp DARPA của Bộ Quốc phòng Mỹ phát triển có thể giúp các cựu chiến binh Mỹ hồi phục chức năng ghi nhớ của bộ não sau chấn thương.

Mỹ phát triển chip cấy trong não người
Đại học Kansas và đại học Case Western đã từng tái tạo thành công trí nhớ của chuột theo cách tương tự

Cụ thể hơn, các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng dữ liệu thu thập từ các bệnh nhân động kinh đã được cấy ghép điện cực vào não để tạo ra mô hình cho vùng não chịu trách nhiệm ghi nhớ ký ức. Sau đó, hệ thống máy tính sẽ ghi lại dữ liệu từ não của các bệnh nhân phẫu thuật não khi họ chơi các game tái tạo trí nhớ.

Mô hình của hai trường đại học sẽ được kết hợp để tạo ra một hệ thống thống nhất. Mục đích của dự án RAM là lấy tín hiệu thần kinh từ vùng não hoạt động bình thường, tách biệt chúng ra khỏi vùng não đã bị tổn thương để tạo ra một sợi dây liên kết có khả năng hoạt động không kém gì não thường.

Dự kiến, dự án tham vọng này của Lầu Năm Góc và 2 trường đại học trên sẽ kéo dài trong vòng 4 năm.

 
Theo khoahoc.com.vn
Phát minh
11:54 AM|

Các con chip cấy ghép vào não do Phòng Dự án Cao cấp DARPA của Bộ Quốc phòng Mỹ phát triển có thể giúp các cựu chiến binh Mỹ hồi phục chức năng ghi nhớ của bộ não sau chấn thương.

Phòng Dự án Cao cấp DARPA của Bộ Quốc phòng Mỹ đã chính thức tài trợ cho dự án chế tạo chip cấy não có tên Restoring Active Memory (RAM – Hồi phục Bộ nhớ Kích hoạt) do Đại học California và Đại học Pennsylvania phối hợp thực hiện. Mục đích của dự án này là nhằm hồi phục chức năng ghi nhớ cho các cựu chiến binh bị chấn thương não.

Mỹ phát triển chip cấy trong não người

Từ năm 2000 tới nay đã có khoảng 270.000 quân nhân Mỹ và 1,7 triệu người dân Mỹ bị chấn thương não. Những người này không thể ghi nhớ những sự kiện xảy ra trước khi bị chấn thương não. Hiện tại, chưa có biện pháp điều trị hiệu quả nào cho hội chứng này cả.

Hai trường Đại học California và Pennsylvania sẽ cùng phát triển các mô hình máy tính về cách hình thành ký ức của các tế bào thần kinh. Các nhà khoa học sẽ nghiên cứu các tín hiệu thần kinh để kiểm chứng xem liệu các quá trình giả lập có giúp tái tạo chức năng ghi nhớ của bộ não hay không.

Các con chip cấy ghép vào não do Phòng Dự án Cao cấp DARPA của Bộ Quốc phòng Mỹ phát triển có thể giúp các cựu chiến binh Mỹ hồi phục chức năng ghi nhớ của bộ não sau chấn thương.

Mỹ phát triển chip cấy trong não người
Đại học Kansas và đại học Case Western đã từng tái tạo thành công trí nhớ của chuột theo cách tương tự

Cụ thể hơn, các nhà nghiên cứu sẽ sử dụng dữ liệu thu thập từ các bệnh nhân động kinh đã được cấy ghép điện cực vào não để tạo ra mô hình cho vùng não chịu trách nhiệm ghi nhớ ký ức. Sau đó, hệ thống máy tính sẽ ghi lại dữ liệu từ não của các bệnh nhân phẫu thuật não khi họ chơi các game tái tạo trí nhớ.

Mô hình của hai trường đại học sẽ được kết hợp để tạo ra một hệ thống thống nhất. Mục đích của dự án RAM là lấy tín hiệu thần kinh từ vùng não hoạt động bình thường, tách biệt chúng ra khỏi vùng não đã bị tổn thương để tạo ra một sợi dây liên kết có khả năng hoạt động không kém gì não thường.

Dự kiến, dự án tham vọng này của Lầu Năm Góc và 2 trường đại học trên sẽ kéo dài trong vòng 4 năm.

 
Theo khoahoc.com.vn

Các chuyên gia người máy hàng đầu tuyên bố, sự xuất hiện của các robot tình dục (gọi tắt là sexbot), giống trẻ em là điều không thể tránh khỏi. Họ tin những robot đặc biệt này có thể là một phần quan trọng trong việc điều trị cho các bệnh nhân ấu dâm, tức là những người có khoái cảm tình dục với trẻ em.

Tạp chí Forbes dẫn lời Ron Arkin, giám đốc phòng thí nghiệm robot di động của công ty Georgia Tech tuyên bố: "Chúng ta đã có đồ chơi tình dục gần như kể từ thời con người và phụ nữ xuất hiện trên Trái đất. Các robot giống trẻ em có thể hữu dụng cho những người bị bệnh ấu dâm giống như cách thuốc ngủ gây tê methadone được dùng để chữa trị cho các con nghiện ma túy".

Sáng kiến trị bệnh ấu dâm bằng robot tình dục trẻ em

Theo ông Arkin, các nhà nghiên cứu nên bắt đầu thử nghiệm các liệu pháp tiềm năng với robot tình dục trẻ em. Chuyên gia này nói, ông không dám chắc việc này sẽ đem lại các kết quả tích cực, nhưng tin rằng nó đáng để thử nhằm bảo vệ xã hội tốt hơn trước sự tái phạm của những tên tội phạm tình dục.

Chuyên gia robot Ben Way, tác giả cuốn sách mới ấn hành nhan đề "Jobocalypse: The End of Human Jobs and How Robots will Replace Them", cũng tán đồng quan điểm này. Ông Way nhận định, các sexbot trẻ em sẽ sớm ra đời trong tương lai và rằng ngay cả cảnh sát cũng không thể phân biệt ranh giới cũng như sự khác biệt giữa một sexbot người lớn và sexbot trẻ em.

Ông Way tin tưởng rằng, các sexbot trẻ em có thể dẫn tới việc một số bệnh nhân ấu dâm sẽ bước ra khỏi bóng tối và từ bỏ ham muốn tình dục đối với trẻ em bằng xương bằng thịt. Nhờ đó, các sexbot trẻ em có thể trở thành công cụ mạnh mẽ nhất giúp giảm tổn hại đến trẻ em thực sự.

Các chuyên gia này cũng cho rằng, các sexbot trẻ em có thể chỉ là sự khởi đầu cho một hướng phát triển mới. Con người có đủ kiểu ham muốn tình dục, kể cả những khao khát quái gở nhất, nên để tránh gây hại cho những người khác trong xã hội, các hãng sản xuất có thể chế tạo robot thỏa mãn mọi nhu cầu đó của mọi loại đối tượng, chẳng hạn như sexbot động vật hay sexbot khuyết tật.

 
Theo khoahoc.com.vn
Phát minh
11:53 AM|

Các chuyên gia người máy hàng đầu tuyên bố, sự xuất hiện của các robot tình dục (gọi tắt là sexbot), giống trẻ em là điều không thể tránh khỏi. Họ tin những robot đặc biệt này có thể là một phần quan trọng trong việc điều trị cho các bệnh nhân ấu dâm, tức là những người có khoái cảm tình dục với trẻ em.

Tạp chí Forbes dẫn lời Ron Arkin, giám đốc phòng thí nghiệm robot di động của công ty Georgia Tech tuyên bố: "Chúng ta đã có đồ chơi tình dục gần như kể từ thời con người và phụ nữ xuất hiện trên Trái đất. Các robot giống trẻ em có thể hữu dụng cho những người bị bệnh ấu dâm giống như cách thuốc ngủ gây tê methadone được dùng để chữa trị cho các con nghiện ma túy".

Sáng kiến trị bệnh ấu dâm bằng robot tình dục trẻ em

Theo ông Arkin, các nhà nghiên cứu nên bắt đầu thử nghiệm các liệu pháp tiềm năng với robot tình dục trẻ em. Chuyên gia này nói, ông không dám chắc việc này sẽ đem lại các kết quả tích cực, nhưng tin rằng nó đáng để thử nhằm bảo vệ xã hội tốt hơn trước sự tái phạm của những tên tội phạm tình dục.

Chuyên gia robot Ben Way, tác giả cuốn sách mới ấn hành nhan đề "Jobocalypse: The End of Human Jobs and How Robots will Replace Them", cũng tán đồng quan điểm này. Ông Way nhận định, các sexbot trẻ em sẽ sớm ra đời trong tương lai và rằng ngay cả cảnh sát cũng không thể phân biệt ranh giới cũng như sự khác biệt giữa một sexbot người lớn và sexbot trẻ em.

Ông Way tin tưởng rằng, các sexbot trẻ em có thể dẫn tới việc một số bệnh nhân ấu dâm sẽ bước ra khỏi bóng tối và từ bỏ ham muốn tình dục đối với trẻ em bằng xương bằng thịt. Nhờ đó, các sexbot trẻ em có thể trở thành công cụ mạnh mẽ nhất giúp giảm tổn hại đến trẻ em thực sự.

Các chuyên gia này cũng cho rằng, các sexbot trẻ em có thể chỉ là sự khởi đầu cho một hướng phát triển mới. Con người có đủ kiểu ham muốn tình dục, kể cả những khao khát quái gở nhất, nên để tránh gây hại cho những người khác trong xã hội, các hãng sản xuất có thể chế tạo robot thỏa mãn mọi nhu cầu đó của mọi loại đối tượng, chẳng hạn như sexbot động vật hay sexbot khuyết tật.

 
Theo khoahoc.com.vn

Các nhà nghiên cứu người Úc đã thiết kế ra loại bao cao su có khả năng tiêu diệt virus HIV. Tới đây, loại bao cao su này sẽ được sản xuất và đưa vào tiêu dùng.

Công ty công nghệ sinh học Úc Starpharma đã sáng chế ra chất bôi trơn Viva Gel trên bao cao su có khả năng kháng virus. Viva Gel được cấu tạo bởi các thành phần hoạt chất để ngăn chặn và tiêu diệt các virus lây truyền qua đường tình dục.

Sáng chế bao cao su có khả năng diệt virus HIV
Bao cao su mới với chất bôi trơn Viva Gel có khả năng tiêu diệt virus HIV.

Cụ thể, thành phần chính trong Viva Gel là Astodrimer Natri (chiếm 0.5%). Đây là một loại kháng sinh được đặc chế như một hợp chất chống lại HIV.

Chứng minh lâm sàng đã cho thấy bao cao su VivaGel có hiệu quả trong việc khử hoạt đến 99.9% hoạt động của virus HIV, mụn sinh dục và các virus gây u nhú ở người.

Sản phẩm đã nhận được giấy chứng nhận đánh giá của Cục quản lý dược phẩm Úc – tương tự như giấy chứng nhận nhãn hiệu CE ở châu Âu cho phép sản xuất hàng loạt và ứng dụng trong tiêu dùng.

Ngoài ra, công ty Công nghệ Sinh học Úc Starpharma còn hợp tác với công ty Ansell để đảm bảo sản phẩm sẽ được phân phối và chiếm lĩnh 70% thị trường bao cao su của Úc.

Được biết, tỷ lệ nhiễm HIV tại Úc mới đây được chẩn đoán tăng 10% trong 12 tháng tính đến cuối năm 2012. Đây được xem như là mức tăng lớn nhất tại Úc trong 20 năm qua.

Đứng trước tình hình đó, Chủ tịch công ty Ansell và Tổng Giám đốc của đơn vị kinh doanh tình dục sức khỏe toàn cầu Peter Carroll hi vọng sẽ sớm đưa đến tay người tiêu dùng “sản phẩm đột phá” trong việc bảo vệ sức khỏe tình dục.

 
Theo khoahoc.com.vn
Phát minh
11:53 AM|

Các nhà nghiên cứu người Úc đã thiết kế ra loại bao cao su có khả năng tiêu diệt virus HIV. Tới đây, loại bao cao su này sẽ được sản xuất và đưa vào tiêu dùng.

Công ty công nghệ sinh học Úc Starpharma đã sáng chế ra chất bôi trơn Viva Gel trên bao cao su có khả năng kháng virus. Viva Gel được cấu tạo bởi các thành phần hoạt chất để ngăn chặn và tiêu diệt các virus lây truyền qua đường tình dục.

Sáng chế bao cao su có khả năng diệt virus HIV
Bao cao su mới với chất bôi trơn Viva Gel có khả năng tiêu diệt virus HIV.

Cụ thể, thành phần chính trong Viva Gel là Astodrimer Natri (chiếm 0.5%). Đây là một loại kháng sinh được đặc chế như một hợp chất chống lại HIV.

Chứng minh lâm sàng đã cho thấy bao cao su VivaGel có hiệu quả trong việc khử hoạt đến 99.9% hoạt động của virus HIV, mụn sinh dục và các virus gây u nhú ở người.

Sản phẩm đã nhận được giấy chứng nhận đánh giá của Cục quản lý dược phẩm Úc – tương tự như giấy chứng nhận nhãn hiệu CE ở châu Âu cho phép sản xuất hàng loạt và ứng dụng trong tiêu dùng.

Ngoài ra, công ty Công nghệ Sinh học Úc Starpharma còn hợp tác với công ty Ansell để đảm bảo sản phẩm sẽ được phân phối và chiếm lĩnh 70% thị trường bao cao su của Úc.

Được biết, tỷ lệ nhiễm HIV tại Úc mới đây được chẩn đoán tăng 10% trong 12 tháng tính đến cuối năm 2012. Đây được xem như là mức tăng lớn nhất tại Úc trong 20 năm qua.

Đứng trước tình hình đó, Chủ tịch công ty Ansell và Tổng Giám đốc của đơn vị kinh doanh tình dục sức khỏe toàn cầu Peter Carroll hi vọng sẽ sớm đưa đến tay người tiêu dùng “sản phẩm đột phá” trong việc bảo vệ sức khỏe tình dục.

 
Theo khoahoc.com.vn
Một nhóm bác sỹ từ Trung tâm y tế Upper Silesian tại thành phố Katowice của Ba Lan ngày 15/7 đã thực hiện thành công ca phẫu thuật tim mang tính tiên phong.
Kỹ thuật phẫu thuật mới hướng mục tiêu điều trị những bệnh nhân bị suy tim và khiếm khuyết van hai lá.

Ảnh: tuftsmedicalcenter.org
Các bác sỹ đã tiến hành đặt một thiết bị cấy ghép đặc biệt mà không cần phải cắt cơ tim. Thiết bị cấy ghép được làm bằng silicone y tế và được đặt trực tiếp lên một quả tim đang đập, xung quanh đáy tim.
Ca phẫu thuật được xem là cơ hội lớn đối với những bệnh nhân bị bệnh trào ngược van hai lá (MR). Bệnh MR ảnh hưởng đến hàng triệu bệnh nhân trên toàn thế giới, người bệnh sẽ suy tim nặng dẫn tới tử vong nếu không được phát hiện và điều trị sớm.
Phương pháp phẫu thuật mới giúp thay thế phẫu thuật tim mở, vốn đang được áp dụng rộng rãi hiện nay.
Trong phẫu thuật tim mở, phẫu thuật viên cắt qua xương ức, làm ngừng tim, lấy bỏ van tim bị hỏng và thay thế van tim mới.
Thời gian phục hồi của bệnh nhân phẫu thuật tim mở thường là 2-3 tháng, trong khi phẫu thuật mới được cho là sẽ rút ngắn thời gian làm thủ tục cũng như thời gian nghĩ dưỡng hậu phẫu.
Theo khoahoc.com.vn
Phát minh
2:39 PM|
Một nhóm bác sỹ từ Trung tâm y tế Upper Silesian tại thành phố Katowice của Ba Lan ngày 15/7 đã thực hiện thành công ca phẫu thuật tim mang tính tiên phong.
Kỹ thuật phẫu thuật mới hướng mục tiêu điều trị những bệnh nhân bị suy tim và khiếm khuyết van hai lá.

Ảnh: tuftsmedicalcenter.org
Các bác sỹ đã tiến hành đặt một thiết bị cấy ghép đặc biệt mà không cần phải cắt cơ tim. Thiết bị cấy ghép được làm bằng silicone y tế và được đặt trực tiếp lên một quả tim đang đập, xung quanh đáy tim.
Ca phẫu thuật được xem là cơ hội lớn đối với những bệnh nhân bị bệnh trào ngược van hai lá (MR). Bệnh MR ảnh hưởng đến hàng triệu bệnh nhân trên toàn thế giới, người bệnh sẽ suy tim nặng dẫn tới tử vong nếu không được phát hiện và điều trị sớm.
Phương pháp phẫu thuật mới giúp thay thế phẫu thuật tim mở, vốn đang được áp dụng rộng rãi hiện nay.
Trong phẫu thuật tim mở, phẫu thuật viên cắt qua xương ức, làm ngừng tim, lấy bỏ van tim bị hỏng và thay thế van tim mới.
Thời gian phục hồi của bệnh nhân phẫu thuật tim mở thường là 2-3 tháng, trong khi phẫu thuật mới được cho là sẽ rút ngắn thời gian làm thủ tục cũng như thời gian nghĩ dưỡng hậu phẫu.
Theo khoahoc.com.vn